Rào cản phòng vệ thương mại bủa vây, doanh nghiệp buộc phải đổi tư duy để ứng phó

Ngày viết: Thứ Ba, Tháng TưTháng Tư 21, 2026 | 15:28 - Lượt xem: 437

Hàng hóa Việt Nam liên tục bị điều tra phòng vệ thương mại tại nhiều thị trường lớn, buộc doanh nghiệp nâng cao năng lực dữ liệu, quản trị rủi ro và thích ứng chiến lược xuất khẩu.

Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đang chịu áp lực ngày càng lớn từ các biện pháp phòng vệ thương mại trên toàn cầu. Tính đến đầu năm 2026, hàng hóa Việt Nam đã đối mặt với khoảng 300 vụ việc điều tra từ 25 thị trường khác nhau.

Các thị trường thường xuyên áp dụng điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam gồm Hoa Kỳ, Ấn Độ, Mexico, Canada, Liên minh châu Âu, Úc, Malaysia và Thái Lan. Trong đó, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường giám sát chặt chẽ nhất, không chỉ với các vụ việc chống bán phá giá truyền thống mà còn mở rộng sang chống lẩn tránh thuế, gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp. Điều này phản ánh xu hướng kiểm soát ngày càng nghiêm ngặt của các nền kinh tế lớn đối với chuỗi cung ứng toàn cầu.

Rào cản thương mại đang khiến nhiều doanh nghiệp Việt gặp khó khăn khi xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường quốc tế. Ảnh minh họa

Xét theo ngành hàng, các lĩnh vực có nguy cơ cao trong năm 2026 vẫn tập trung vào thép, nhôm, gỗ và sản phẩm gỗ, vật liệu xây dựng cùng một số sản phẩm công nghiệp chế tạo. Đây đều là những ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng quốc tế. Chính vì vậy, áp lực từ các biện pháp phòng vệ thương mại được dự báo sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao trong thời gian tới.

Ở góc độ doanh nghiệp, năng lực ứng phó đã có sự cải thiện đáng kể so với trước đây. Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất hiện nay vẫn nằm ở hệ thống dữ liệu. Nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu chuẩn hóa, dẫn đến tình trạng số liệu thiếu nhất quán hoặc không đủ độ tin cậy khi cung cấp cho cơ quan điều tra.

Trong khi đó, các vụ việc phòng vệ thương mại thường yêu cầu bộ dữ liệu rất chi tiết, từ chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, giao dịch xuất khẩu – nội địa, đến cơ cấu cổ đông, quan hệ liên kết và nguồn gốc nguyên liệu. Bên cạnh đó nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thiết lập được cơ chế liên kết giữa các bộ phận như xuất khẩu, kế toán, sản xuất, pháp chế và mua hàng.

Trong bối cảnh đó, các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp cần thay đổi cách tiếp cận, chuyển từ tư duy “xử lý vụ việc” sang “quản trị rủi ro phòng vệ thương mại”. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động đánh giá yếu tố pháp lý ngay từ khi xây dựng kế hoạch xuất khẩu, bao gồm theo dõi diễn biến điều tra tại thị trường mục tiêu, mức độ phụ thuộc vào từng thị trường và nguy cơ bị nghi ngờ lẩn tránh thuế.

Về chuỗi cung ứng, việc minh bạch hóa nguồn gốc nguyên liệu và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa là yếu tố then chốt. Chiến lược giá cũng cần được điều chỉnh theo hướng bền vững hơn.

Ngoài ra, vai trò của các hiệp hội ngành hàng cần được phát huy mạnh mẽ hơn trong việc cung cấp cảnh báo sớm, chia sẻ dữ liệu và hỗ trợ doanh nghiệp kết nối với cơ quan quản lý. Khi doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan nhà nước thiết lập được cơ chế phối hợp chặt chẽ, năng lực phòng vệ thương mại của toàn ngành sẽ được nâng cao.

Ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) cũng khẳng định, để không bị loại khỏi cuộc chơi doanh nghiệp buộc phải từ bỏ tư duy ‘đến đâu đỡ đến đấy” và bắt đầu đầu tư thực chất vào năng lực quản trị dữ liệu để tự bảo vệ mình. Đồng thời nâng cao năng lực quản trị và xây dựng chiến lược phát triển dài hạn dựa trên nền tảng minh bạch và bền vững.

An Dương