Hình thành tư duy Năng suất Chất lượng cho nguồn nhân lực khối ngành kinh tế vận tải: Dấu ấn từ mô hình đào tạo thí điểm tại 03 trường đại học
Ngày viết: Thứ Năm, Tháng Ba 26, 2026 | 16:37 - Lượt xem: 530
Thực hiện Quyết định số 1322/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam là đơn vị được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Nghiên cứu phát triển chương trình đào tạo và triển khai đào tạo về năng suất, chất lượng cho sinh viên khối ngành kinh tế vận tải của các trường đại học ở Việt Nam” (Mã số: 01/NSCL-2023), do PGS.TS. Nguyễn Thanh Sơn – Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng thường trực Nhà trường làm Chủ nhiệm đề tài.
Nhiệm vụ đã bước đầu thành công trong việc đưa hệ thống chuẩn kiến thức Năng suất Chất lượng (NSCL) vào giảng đường đại học, góp phần đào tạo thế hệ nhân sự kinh tế vận tải mang tư duy quản trị tinh gọn.

Khoảng trống kỹ năng và lời giải từ giảng đường
Ngành vận tải Việt Nam đang gánh chịu áp lực lớn về chi phí tối ưu hóa luân chuyển. Để tăng sức cạnh tranh, doanh nghiệp vận tải rất cần nguồn nhân lực có khả năng sử dụng dữ liệu để đánh giá thực trạng hiện trường và giảm thiểu lãng phí. Tuy nhiên, một khảo sát gần đây trên 541 sinh viên và chuyên gia cho thấy một thực tế: Dù có tới 78,15% người học nhận thức được tầm quan trọng của NSCL, nhưng lại có 27,78% sinh viên khối ngành kinh tế chưa từng được tiếp cận với các khái niệm cốt lõi như 5S, Kaizen hay Lean.
Để giải quyết bài toán này, nhóm nghiên cứu thuộc Nhiệm vụ 01/NSCL-2023 (do Trường Đại học Hàng hải Việt Nam chủ trì) đã biên soạn Bộ giáo trình chuẩn và triển khai chuỗi đào tạo thí điểm từ Giảng viên đến Sinh viên khối ngành kinh tế vận tải tại 03 cơ sở: Đại học Hàng hải Việt Nam, Đại học GTVT TP.HCM và Đại học Hải Phòng.
Mô hình “Vòng xoắn ba” và Ma trận tín chỉ linh hoạt
Điểm sáng của chương trình là sự linh hoạt trong thiết kế. Dựa trên bộ giáo trình gốc, 03 trường đại học đã thiết kế “Ma trận mô-đun” phù hợp với đặc thù đào tạo: Khung 2 tín chỉ (ĐH Hải Phòng) tập trung vào khối kinh tế và dịch vụ vận tải nội địa; Khung 3 tín chỉ (ĐH Hàng hải VN) bao quát kinh tế vận tải biển và xu hướng Cảng xanh; Khung 4 tín chỉ (ĐH GTVT TP.HCM) đi sâu vào thực hành đồ án quản trị tinh gọn trong vận tải đa phương thức.
Kết quả đánh giá đầu ra (Post-test) ghi nhận sự tiến bộ rõ rệt. Năng lực sử dụng công cụ cải tiến (PDCA, 7 QC Tools, 5S) của sinh viên được cải thiện với độ tin cậy thống kê cao. Đặc biệt, chương trình đã thiết lập thành công mô hình “Vòng xoắn ba” (Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp), trong đó các Chi cục TCĐLCL tại địa phương đóng vai trò cầu nối, trực tiếp chia sẻ về tiêu chuẩn TCVN/ISO, đồng thời các doanh nghiệp (VOSCO, Cảng Lạch Huyện, Gemalink) cung cấp dữ liệu thực tế để xây dựng Case-study.
Mô hình đào tạo từ Nhiệm vụ 01/NSCL-2023 đã cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc để Ủy ban TCĐLCL Quốc gia và Bộ Khoa học & Công nghệ xây dựng chính sách nhân rộng học phần NSCL ra hệ thống các trường đại học có đào tạo chuyên ngành kinh tế vận tải trên toàn quốc trong giai đoạn tới.
Nguyễn Hà, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam




















