Bảo đảm tính khả thi trong đánh giá tác động dự thảo quy chuẩn kỹ thuật

Ngày viết: Thứ Tư, Tháng Chín 9, 2026 | 11:27 - Lượt xem: 174

Đánh giá tính khả thi là yêu cầu quan trọng trong quá trình xây dựng dự thảo quy chuẩn kỹ thuật, nhằm bảo đảm các quy định phù hợp thực tiễn, có đủ nguồn lực thực hiện và không tạo gánh nặng không cần thiết cho doanh nghiệp, người dân.

Hoạt động thử nghiệm tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 1. (Ảnh: Nguyễn Xen)

Thực tế cho thấy, báo cáo đánh giá tác động dự thảo quy chuẩn kỹ thuật là một trong những cơ sở quan trọng để cơ quan quản lý xem xét tính cần thiết, hiệu quả và khả thi của quy chuẩn kỹ thuật trước khi ban hành.

Nói cách khác, việc đánh giá đầy đủ tác động của quy chuẩn kỹ thuật đối với người dân, doanh nghiệp, môi trường và hoạt động sản xuất, kinh doanh,… góp phần hạn chế những quy định thiếu tính thực tiễn, đồng thời bảo đảm đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển kinh tế – xã hội.

Theo Nghị định số 22/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, việc lập báo cáo đánh giá tác động dự thảo quy chuẩn kỹ thuật được thực hiện bằng phương pháp định lượng hoặc định tính. Trường hợp không thể áp dụng phương pháp định lượng, báo cáo phải nêu rõ lý do.

Một yêu cầu quan trọng khác là thông tin sử dụng để xây dựng báo cáo đánh giá tác động phải chính xác, trung thực và ghi rõ nguồn thông tin. Đây là cơ sở nhằm bảo đảm các phân tích, nhận định và đề xuất trong báo cáo có căn cứ, hạn chế tình trạng đánh giá tác động dựa trên thông tin thiếu đầy đủ hoặc không được kiểm chứng.

Về nội dung, báo cáo đánh giá tác động trước hết phải khái quát chung về những nội dung của dự thảo quy chuẩn kỹ thuật; xác định vấn đề (đánh giá, phân tích bất cập trên thực tiễn, mức độ rủi ro, diễn giải cụ thể các nội dung của dự thảo quy chuẩn kỹ thuật có khả năng tác động và cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học, lý do quy định các chỉ tiêu kỹ thuật, yêu cầu quản lý);

Đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề; phân tích, đánh giá tác động tích cực và tác động tiêu cực của từng giải pháp đối với Nhà nước, người dân, doanh nghiệp (phân tích, đánh giá lợi ích – chỉ phí, tác động kinh tể xã hội, ảnh hưởng môi trường, người tiêu dùng…);

Báo cáo đồng thời phải đánh giá tính khả thi, sẵn sàng của hạ tầng kỹ thuật, năng lực hoạt động đánh giá sự phù hợp sau khi quy chuẩn kỹ thuật được ban hành (phân tích, đánh giá năng lực đội ngũ chuyên gia; năng lực phòng thử nghiệm, giám định, chứng nhận trong nước; khả năng thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp của tổ chức quốc tế, nước ngoài; kiểm tra, giám sát, hậu kiểm…);

Đối với những trường hợp đang có các quy định hiện hành điều chỉnh nội dung liên quan quy định tại dự thảo quy chuẩn kỹ thuật, báo cáo phải xác định thời hạn chuyển tiếp và thời điểm quy chuẩn kỹ thuật có hiệu lực. Quá trình xây dựng cũng cần thực hiện tham vấn đối với các vấn đề có khả năng tác động đến kinh tế – xã hội, môi trường và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; đồng thời giải trình các ý kiến liên quan.

Trên cơ sở kết quả phân tích và tham vấn các bên liên quan, báo cáo phải đưa ra kiến nghị về giải pháp tối ưu. Cách tiếp cận này giúp việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật không chỉ dựa trên yêu cầu quản lý mà còn tính đến điều kiện thực tế và khả năng thực hiện của các đối tượng chịu tác động.

Bên cạnh đó, Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, giám sát việc triển khai xây dựng, ban hành và áp dụng quy chuẩn kỹ thuật, bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

Nguyễn Xen