Bắc Ninh từng bước hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc để minh bạch chuỗi sản phẩm
Ngày viết: Thứ Ba, Tháng Chín 29, 2026 | 5:33 - Lượt xem: 232
Bắc Ninh đang từng bước hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc trên nền tảng số, kết nối dữ liệu sản phẩm với vùng sản xuất, cơ sở đóng gói và chuỗi cung ứng, hướng tới minh bạch thông tin và đáp ứng yêu cầu thị trường.
Theo Kế hoạch số 177/KH-UBND ngày 16/5/2026, Bắc Ninh triển khai truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035. Tỉnh định hướng hoàn thiện cơ sở dữ liệu, gắn mã QR cho sản phẩm hoặc lô sản phẩm chủ lực, đồng thời kết nối, chia sẻ và đồng bộ dữ liệu với hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Việc xây dựng dữ liệu truy xuất đồng bộ sẽ hỗ trợ minh bạch thông tin sản phẩm, kiểm soát chất lượng sản phẩm hàng hóa trên địa bàn tỉnh. Ảnh minh họa
Cùng với xây dựng cơ sở dữ liệu, tỉnh đặt mục tiêu hình thành các chuỗi sản xuất, cung ứng đáp ứng yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chất lượng và an toàn thực phẩm; tiếp tục cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Giai đoạn 2027-2030, Bắc Ninh đặt mục tiêu mức tăng trưởng các mã số này tối thiểu 10% mỗi năm.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc tỉnh Bắc Ninh được xây dựng trên nền tảng số, có khả năng liên thông với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia. Việc kết nối giúp dữ liệu về sản phẩm có thể được chia sẻ, đồng bộ, tạo cơ sở phục vụ quản lý và truy xuất theo chuỗi.
Một kết quả bước đầu đáng chú ý là mô hình ứng dụng Blockchain trong truy xuất nguồn gốc vải thiều tại xã Kiên Lao. Theo Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Ninh, hộ ông Vũ Văn Mến là hộ đầu tiên tại tỉnh đưa quy trình trồng trọt và chuỗi cung ứng vải thiều lên nền tảng Blockchain, kết hợp chuẩn mã vạch quốc tế GS1.
Mô hình được triển khai trên diện tích 1,5 ha, sản lượng vụ năm 2026 đạt khoảng 3-4 tấn. Sản phẩm được cấp mã GTIN theo chuẩn GS1; thông tin về quá trình canh tác, chăm sóc, thu hoạch, vận chuyển và kiểm định chất lượng được ghi nhận trên nền tảng Blockchain. Các lô hàng xuất đi được gắn mã QR tích hợp GS1 để hỗ trợ tra cứu.
Việc kết nối giữa hệ thống của tỉnh với hệ thống quốc gia tạo điều kiện để dữ liệu truy xuất được chuẩn hóa và chia sẻ giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng. Đối với sản phẩm nông nghiệp, đây cũng là cơ sở hỗ trợ quản lý vùng sản xuất, cơ sở đóng gói và quá trình lưu thông, nhất là với những sản phẩm hướng tới thị trường ngoài tỉnh và xuất khẩu.
Trong thời gian tới, Bắc Ninh tiếp tục cập nhật dữ liệu, mở rộng sản phẩm tham gia truy xuất, phát triển mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và hoàn thiện khả năng kết nối giữa các hệ thống. Việc xây dựng dữ liệu truy xuất đồng bộ sẽ hỗ trợ minh bạch thông tin sản phẩm, kiểm soát chất lượng và nâng khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Cùng với việc từng bước hoàn thiện hạ tầng và mở rộng ứng dụng truy xuất nguồn gốc, Bắc Ninh cũng đang hoàn thiện cơ sở quản lý để hệ thống được vận hành thống nhất. Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Ninh đã xây dựng Dự thảo Quy định quản lý và sử dụng Hệ thống truy xuất nguồn gốc tỉnh Bắc Ninh, trong đó quy định phạm vi, đối tượng áp dụng, trách nhiệm của các bên tham gia, quản lý tài khoản và cập nhật dữ liệu trên hệ thống.
Hồ sơ dự thảo đã được lấy ý kiến và nhận 51 ý kiến, trong đó 47 ý kiến thống nhất, 4 ý kiến góp ý cụ thể từ các cơ quan, đơn vị, địa phương. Trên cơ sở tiếp thu, Sở Khoa học và Công nghệ đã chỉnh sửa, làm rõ một số nội dung liên quan đến phạm vi điều chỉnh, hoạt động của hệ thống, quản lý tài khoản, cập nhật dữ liệu, tạm dừng và khôi phục tài khoản. Việc hoàn thiện quy định được thực hiện theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất tham gia, đồng thời không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính.
Lê Lan






















