Thứ Tư, Tháng Mười Hai 12, 2018 @ 11:12
Mối nguy hại từ cốc thủy tinh nhiễm chì
Theo Cục Quản lý Chất lượng Sản phẩm Hàng hóa, Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng: Những loại cốc thủy tinh in hình ảnh và các nhân vật hoạt hình có chứa hàm lượng chì cao gấp hàng chục đến nghìn lần mức độ cho phép. Đặc biệt, những loại cốc có nguồn gốc từ Trung Quốc lại càng chứa lượng chì cao hơn, đây chính là mối nguy hại, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng.
Theo các chuyên gia về vật liệu, thủy tinh thường được nung trên 1.0000C nên thường không có màu sắc. Do đó, nhà sản xuất phải thêm chì để tạo màu sắc cho cốc thủy tinh.

Khi sử dụng cốc thủy tinh, chì trong cốc sẽ thôi nhiễm vào nước uống và đi vào cơ thể con người. Về lâu dài, chì tích tụ trong cơ thể sẽ gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm. Đối với trẻ nhỏ, nhiễm độc chì sẽ gây tổn hại hệ thần kinh, rối loạn sự tập trung chú ý ở trẻ. Ở tuổi trung niên, nhiễm độc chì làm huyết áp tăng, gây nhiều rủi ro về các bệnh tim mạch. Cho dù nhiễm độc chì ở mức thấp cũng gây ra những tổn hại lớn cho sức khỏe.
Tốt nhất không nên dùng cốc thủy tinh có màu sắc để đảm bảo an toàn cho sức khỏe.
TH
Thứ Bảy, Tháng Tám 22, 2026 @ 11:12
Truy xuất nguồn gốc – công cụ nâng giá trị nông sản TP. Hồ Chí Minh
UBND TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% sản phẩm, hàng hóa nông sản thuộc nhóm ưu tiên, nông sản chủ lực và sản phẩm OCOP trên địa bàn được hướng dẫn áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc (TXNG), từng bước hình thành các chuỗi TXNG minh bạch, đồng bộ và phục vụ hiệu quả quản lý nhà nước.
UBND TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành Kế hoạch số 465/KH-UBND về triển khai truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn thành phố.
Kế hoạch nhằm rà soát, bổ sung danh mục nhóm sản phẩm, hàng hóa nông sản chủ lực cần thực hiện TXNG, cập nhật vào hệ thống và từng bước hình thành chuỗi TXNG nông sản trên địa bàn.
Theo kế hoạch, thành phố đặt mục tiêu 100% sản phẩm, hàng hóa nông sản được sản xuất trên địa bàn thuộc Danh mục sản phẩm, hàng hóa ưu tiên triển khai TXNG, sản phẩm, hàng hóa nông sản chủ lực và sản phẩm tham gia Chương trình OCOP được hướng dẫn áp dụng hệ thống TXNG.
Hồ Chí Minh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở An toàn thực phẩm, Sở Khoa học và Công nghệ cùng UBND các phường, xã, đặc khu triển khai áp dụng hệ thống TXNG đối với các sản phẩm, hàng hóa nông sản có mức độ rủi ro cao, bắt buộc thực hiện TXNG; sản phẩm thuộc danh mục ưu tiên của thành phố, nông sản chủ lực, sản phẩm OCOP và các sản phẩm khác thuộc thẩm quyền quản lý.
Bên cạnh đó, thành phố sẽ tổ chức các hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ, quảng bá sản phẩm cho các đơn vị tham gia TXNG; đồng thời nghiên cứu các phương án khuyến khích, thu hút và hỗ trợ doanh nghiệp triển khai hệ thống TXNG.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc nông sản.
Đáng chú ý, Sở Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả TXNG; tổ chức triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ để phát triển giải pháp, công nghệ phục vụ TXNG nông sản.
Thành phố cũng sẽ hướng dẫn kết nối với “Hệ thống TXNG nông sản” của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Cổng thông tin TXNG sản phẩm, hàng hóa quốc gia; phối hợp với Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia khai thác, cung cấp và tra cứu thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước.
Việc triển khai Kế hoạch 465/KH-UBND được kỳ vọng góp phần nâng cao tính minh bạch của chuỗi cung ứng nông sản, hỗ trợ kiểm soát chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm, đồng thời tạo thêm công cụ để doanh nghiệp nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Hồng Vân
Thứ Sáu, Tháng TưTháng Tư 10, 2026 @ 21:01
Tọa đàm trực tuyến: ‘Phát triển nhân lực số: Chìa khóa nâng cao năng suất doanh nghiệp’
Chiều ngày 10/4/2026, Tạp chí Chất lượng Việt Nam (VietQ.vn) tổ chức chương trình Tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Phát triển nhân lực số: Chìa khóa nâng cao năng suất doanh nghiệp”.
.png)
Chương trình toạ đàm được cập nhật trên VietQ.vn và các nền tảng số.
MC: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Trong đó, nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò là lực lượng then chốt giúp áp dụng, làm chủ và sáng tạo trong việc triển khai công nghệ, từ đó nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cũng nêu rõ, một trong những nhiệm vụ trọng yếu là tăng cường đầu tư, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, dù nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vào công nghệ, nhưng “nút thắt” lớn nhất lại nằm ở nguồn nhân lực – thiếu kỹ năng số, thiếu tư duy số và thiếu đội ngũ chuyên sâu.
Vậy làm thế nào để phát triển nguồn nhân lực số đủ mạnh? Làm thế nào để nguồn nhân lực thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất doanh nghiệp?
Để giải đáp những vấn đề trên, Tạp chí Chất lượng Việt Nam (VietQ.vn) tổ chức Tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Phát triển nhân lực số: Chìa khóa nâng cao năng suất doanh nghiệp” nhằm trao đổi, chia sẻ các giải pháp thực tiễn giúp xây dựng nguồn nhân lực số phát triển mạnh mẽ, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao năng suất trong thời đại công nghệ.
Vâng, xin trân trọng giới thiệu sự tham gia của các vị khách mời:
+ Ông Đỗ Đình Quang – Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hưng Yên;
+ PGS. TS Ngô Văn Quang – Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Công nghệ Đông Á;
+ Bà Lê Thị Hoài Thương – Giám đốc Đối ngoại Công ty TNHH Nestlé Việt Nam.
Cảm ơn các vị khách mời đã nhận lời tham dự chương trình.
Câu hỏi đầu tiên xin được gửi đến ông Đỗ Đình Quang. Theo ông, “nhân lực số” cần được hiểu như thế nào trong bối cảnh hiện nay? Đâu là những rào cản lớn nhất trong phát triển lực lượng này?
Ông Đỗ Đình Quang: Đề hiểu rõ hơn về nhân lực số, trước hết chúng ta đi từ khái niệm chuyển đổi số. Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên công nghệ số.
Như vậy, có thể hiểu “nhân lực số” không chỉ là đội ngũ kỹ sư công nghệ mà là toàn bộ lực lượng lao động có khả năng làm việc hiệu quả trong môi trường số. Và có thể chia theo 3 mức: Kỹ năng số cơ bản (sử dụng dịch vụ số thiết yếu); Kỹ năng số nâng cao ứng dụng trong công việc; Kỹ năng số chuyên sâu như lập trình, dữ liệu, AI…
Yếu tố, rào cản lớn nhất hiện nay không phải là thiếu công nghệ, mà là thiếu tư duy số. Nhiều nơi vẫn coi chuyển đổi số là “việc của bộ phận công nghệ thông tin (IT)”, trong khi bản chất là thay đổi cách làm việc của toàn bộ tổ chức.
Vì vậy, muốn phát triển nhân lực số, tôi cho rằng trước hết phải thay đổi nhận thức, từ lãnh đạo đến từng cán bộ, người lao động.
Các vị khách mời tham dự chương trình toạ đàm.
MC: Tại Phiên họp chuyên đề về công nghệ chiến lược diễn ra ngày 18/3, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, phải đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; không có nhân lực tốt thì không thể có công nghệ tốt; không có đội ngũ chuyên gia giỏi, kỹ sư giỏi, nhà khoa học mạnh, nhà quản trị công nghệ tốt thì không thể làm chủ công nghệ chiến lược…
Thưa PGS. TS Ngô Văn Quang, từ góc độ cơ sở đào tạo, ông đánh giá như thế nào về thực trạng nguồn nhân lực số tại Việt Nam hiện nay? Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp đang nằm ở đâu?
PGS. TS Ngô Văn Quang: Có thể thấy, qua ý kiến của ông Đỗ Đình Quang vừa rồi, chúng ta đã hình dung khá rõ về khái niệm nguồn nhân lực số cũng như những vấn đề đặt ra trong quá trình chuyển đổi số hiện nay. Nếu nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, như các đại biểu đã phân tích thì từ phía cơ sở đào tạo, tôi cho rằng nhận định của Tổng Bí thư là hoàn toàn đúng đắn và có tính định hướng rất sâu sắc.
Trong bối cảnh hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định khả năng làm chủ công nghệ. Như ý kiến đã được chia sẻ, cốt lõi không chỉ nằm ở kỹ năng, mà còn ở tư duy số – tức khả năng thích ứng, sáng tạo và vận hành trong môi trường số.
Thực tế cho thấy, Việt Nam đang có nền tảng tương đối thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực số. Tỷ lệ người dùng internet cao, hạ tầng số phát triển nhanh với tốc độ kết nối thuộc nhóm tốt trên thế giới. Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục – đào tạo cũng đang từng bước tiếp cận các chuẩn năng lực số.
Đặc biệt, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 02/2025 về khung năng lực số đã tạo ra chuẩn chung, giúp định hướng rõ ràng hơn cho việc phát triển kỹ năng số của người học theo hướng toàn diện. Điều này không chỉ dừng lại ở kỹ năng công nghệ, mà còn bao gồm năng lực làm việc, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng trong môi trường số.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở quy mô, mà nằm ở chất lượng và chiều sâu của nguồn nhân lực. Chúng ta đang thiếu đội ngũ nhân lực có kỹ năng số ở trình độ cao, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt như dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp vẫn còn khá lớn. Đồng thời, chúng ta cũng thiếu lực lượng nhân sự có khả năng dẫn dắt, tổ chức triển khai và thực thi chuyển đổi số ở cấp độ cao.
Có thể nói, Việt Nam đã có nền tảng và nguồn cung nhất định về nhân lực số, nhưng vẫn thiếu đội ngũ chất lượng cao. Đây chính là điểm nghẽn lớn nhất trong quá trình làm chủ công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số một cách hiệu quả, bền vững.
PGS. TS Ngô Văn Quang – Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Công nghệ Đông Á.
MC: Ở góc độ doanh nghiệp, nhân lực số đóng vai trò như thế nào trong nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, thưa bà Hoài Thương?
Bà Lê Thị Hoài Thương: Ở góc độ doanh nghiệp, nguồn nhân lực số giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng. Con người luôn được xem là vốn quý và trong giai đoạn hiện nay, điều đó càng trở nên rõ nét.
Công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được con người làm chủ. Vì vậy, nhân lực số đóng vai trò then chốt trên một số phương diện.
Trước hết, nhân lực số giúp chuyển công nghệ thành giá trị thực. Đội ngũ có kỹ năng số có khả năng khai thác dữ liệu, vận hành hệ thống và biến thông tin thành các quyết định sản xuất – kinh doanh cụ thể. Đồng thời, họ góp phần thay đổi cách làm việc trong doanh nghiệp, từ dựa vào kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu, hướng tới chuẩn hóa và cải tiến liên tục. Bên cạnh đó, việc đào tạo và nâng cao kỹ năng cho lực lượng nội bộ còn giúp doanh nghiệp bảo đảm tính bền vững của quá trình chuyển đổi số, giảm phụ thuộc vào các nhà cung cấp công nghệ bên ngoài và tăng khả năng thích ứng với công nghệ mới.
Định hướng phát triển của doanh nghiệp gắn với mục tiêu bền vững, hướng tới mô hình toàn cầu nhưng am hiểu địa phương. Chuyển đổi số được triển khai nhằm tối ưu hóa hoạt động, lấy người tiêu dùng làm trung tâm, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo trên nền tảng đặt con người làm trọng tâm. Quá trình này được áp dụng xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị, từ canh tác, thu mua, sản xuất đến kinh doanh, tiếp thị và chuỗi cung ứng. Trong đó, chuyển đổi số dựa trên ba yếu tố chính: dữ liệu, công nghệ và cốt lõi là năng lực của đội ngũ nhân sự.
Thực tiễn cho thấy, chuyển đổi số cần được xây dựng trên năm nền tảng quan trọng, gồm định hướng chiến lược, quản trị tập trung, hạ tầng, nguồn nhân lực trình độ cao và sự liên kết hỗ trợ. Việc xóa nhòa khoảng cách địa lý nhờ công nghệ cũng đồng thời đặt ra yêu cầu về năng lực ở cấp độ toàn cầu đối với doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực số giữ vai trò trung tâm, mang tính quyết định đến thành công của chuyển đổi số, có thể khái quát qua một số khía cạnh chính.
Thứ nhất, nhân lực số là nền tảng cốt lõi của chuyển đổi số. Đây không chỉ là câu chuyện đầu tư công nghệ, mà trước hết là sự thay đổi trong cách làm việc, cách ra quyết định và tạo ra giá trị. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi con người đủ năng lực làm chủ, khai thác và cải tiến.
Thứ hai, nhân lực số là chủ thể vận hành hệ sinh thái số. Trong quá trình tự động hóa, số hóa và tối ưu hóa, vai trò của con người không bị thay thế mà được nâng cao, từ vận hành thủ công sang giám sát thông minh, phân tích dữ liệu và ra quyết định theo thời gian thực; từ thực thi quy trình sang tham gia đồng sáng tạo giải pháp.
Thứ ba, nhân lực số giúp doanh nghiệp đáp ứng các chuẩn mực toàn cầu. Trong điều kiện hội nhập, doanh nghiệp phải đồng thời đáp ứng các yêu cầu quốc tế về chất lượng, truy xuất, phát triển bền vững và dữ liệu, đồng thời phù hợp với điều kiện địa phương. Đội ngũ nhân lực số đóng vai trò kết nối giữa hệ thống toàn cầu và thực tiễn vận hành.
Thứ tư, nhân lực số là động lực của đổi mới và học hỏi liên tục. Việc khuyến khích sáng kiến từ đội ngũ vận hành, phát triển các ứng dụng công nghệ ngay tại hiện trường và xây dựng văn hóa dữ liệu, minh bạch, cải tiến liên tục giúp doanh nghiệp thích ứng nhanh với biến động của công nghệ và thị trường.
Cuối cùng, nhân lực số quyết định năng lực cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, việc gắn chuyển đổi số với phát triển nhân lực mang lại nhiều kết quả như nâng cao hiệu suất, chất lượng, giảm chi phí vận hành và góp phần giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Tóm lại, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, nguồn nhân lực số không chỉ là yếu tố hỗ trợ mà đã trở thành tài sản chiến lược, quyết định khả năng làm chủ công nghệ, đáp ứng chuẩn mực quốc tế, thúc đẩy đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh một cách bền vững.
MC: Ở bình diện quốc gia và trực tiếp là tỉnh Hưng Yên, nhân lực số nói riêng và công nghệ số nói chung sẽ tác động thế nào đến năng suất nền kinh tế, đặc biệt là đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số, thưa ông?
Ông Đỗ Đình Quang: Ở bình diện nào cũng vậy, quốc gia hay địa phương, công nghệ số và nhân lực số tác động đến năng suất theo ba cách chính thức:
Thứ nhất, tự động hoá quy trình, giúp nâng cao năng suất, hiệu quả, một người làm việc bằng nhiều người trước đây.
Thứ hai, ra quyết định dựa trên dữ liệu, do dữ liệu được tổng hợp tự động nên giảm sai sót và được phân tích để tối ưu vận hành.
Thứ ba, tạo ra mô hình kinh doanh mới, các nền tảng số giúp mở rộng thị trường mà không cần tăng tương ứng nguồn lực.
Đối với nền kinh tế, yếu tố quyết định tăng trưởng hai con số không còn là vốn hay lao động mà là năng suất tổng hợp (TFP). Và chuyển đổi số chính là công cụ mạnh nhất để nâng năng suất này. Nói cách khác, muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, phải dựa vào nhân lực số và công nghệ số như động lực trung tâm.
Ông Đỗ Đình Quang – Phó Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Hưng Yên.
MC: Tại Nestlé Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ số đã giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất ra sao? Nhân lực số đóng vai trò gì trong quá trình này, bà có thể chia sẻ một câu chuyện thành công cụ thể cho khán giả theo dõi chương trình?
Bà Lê Thị Hoài Thương: Trong thực tế, ứng dụng công nghệ số giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất theo một cách rất căn bản: không chỉ làm nhanh hơn mà làm thông minh hơn. Khi các quy trình được số hóa và tự động hóa, doanh nghiệp giảm được nhiều công việc thủ công, loại bỏ các khâu không tạo giá trị, từ đó cùng một lực lượng lao động nhưng tạo ra sản lượng và chất lượng cao hơn.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có nhân lực số phù hợp. Nhân lực số giúp doanh nghiệp khai thác dữ liệu, đưa ra quyết định chính xác hơn và duy trì cải tiến liên tục, thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm. Nói cách khác, con người chính là yếu tố quyết định để biến công nghệ thành năng suất thực tế.
Một ví dụ điển hình là Nestlé Việt Nam. Tại Nhà máy Bông Sen, Nestlé đã triển khai mô hình “Nhà máy kết nối”, số hóa toàn bộ dữ liệu và quy trình sản xuất, đồng thời đào tạo đội ngũ nhân viên làm chủ công nghệ. Kết quả là doanh nghiệp cắt giảm tới khoảng 60% các hoạt động không tạo giá trị, nâng cao hiệu quả vận hành và vẫn đảm bảo chất lượng, an toàn và phát triển bền vững.
Câu chuyện này cho thấy: muốn nâng cao năng suất trong thời đại số, doanh nghiệp cần đầu tư song song vào công nghệ và phát triển nhân lực số.
Bà Lê Thị Hoài Thương – Giám đốc Đối ngoại Công ty TNHH Nestlé Việt Nam.
MC: Thưa PGS. TS Ngô Văn Quang, theo ông, cần những giải pháp gì để phát triển nguồn nhân lực số vừa đáp ứng nhu cầu hiện tại, vừa đón đầu tương lai?
PGS. TS Ngô Văn Quang: Qua chia sẻ từ phía doanh nghiệp, có thể thấy rõ nguồn nhân lực số đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong nâng cao năng suất lao động, đồng thời tạo ra giá trị cho cả doanh nghiệp và toàn xã hội.
Nhận diện rõ điều này, thời gian qua, Trung ương và lãnh đạo cấp cao, đặc biệt là Tổng Bí thư đã có nhiều định hướng mang tính chiến lược. Cùng với đó, Chính phủ kiến tạo cũng đang thúc đẩy mạnh mẽ các chính sách, giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực số. Thực tế cho thấy, các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là hệ thống cơ sở đào tạo đã có những chuyển động tích cực trong việc đưa ra các giải pháp phù hợp.
Tôi thường chia sẻ với học viên và sinh viên rằng: “Thành công thường đến với những người đi trước một bước”. Tuy nhiên, “đi trước” ở đây không có nghĩa là làm nhanh hơn, mà là nhìn thấy trước tương lai. Trong giáo dục – đào tạo cũng vậy, chúng ta không chỉ đào tạo nhanh, mà quan trọng hơn là đào tạo đúng những gì thị trường sẽ cần trong tương lai. Điều đó đòi hỏi phải chuyển từ tư duy “đào tạo để đáp ứng” sang “đào tạo để dẫn dắt”. Giáo dục không chỉ chạy theo nhu cầu thị trường, mà cần có khả năng dự báo, định hình và thậm chí dẫn dắt nhu cầu trong tương lai.
Từ góc độ này, tôi cho rằng có ba vấn đề cần đặc biệt quan tâm:
Thứ nhất, cần đổi mới căn bản giáo dục theo hướng phát triển năng lực số một cách toàn diện. Không chỉ dừng lại ở việc đưa các học phần công nghệ vào chương trình đào tạo, mà phải tích hợp kỹ năng số vào tất cả ngành nghề. Trọng tâm cần chuyển từ đào tạo kiến thức sang phát triển năng lực, đặc biệt là tư duy số, tư duy dữ liệu và khả năng thích ứng.
|
Công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có nhân lực số phù hợp. Nhân lực số giúp doanh nghiệp khai thác dữ liệu, đưa ra quyết định chính xác hơn và duy trì cải tiến liên tục, thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm. Nói cách khác, con người chính là yếu tố quyết định để biến công nghệ thành năng suất thực tế.
|
Trong bối cảnh hiện nay, các quyết định ngày càng phải dựa trên dữ liệu. Thực tiễn cho thấy, khi có dữ liệu đầy đủ và chính xác, chúng ta có thể tối ưu hóa hoạt động, tránh lãng phí và nâng cao hiệu quả. Điều này càng khẳng định vai trò của việc trang bị năng lực số cho người học.
Thứ hai, cần tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp theo hướng đồng kiến tạo. Doanh nghiệp không chỉ là bên tiếp nhận lao động, mà phải tham gia sâu vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo. Chính doanh nghiệp là nơi hiểu rõ nhất nhu cầu về kỹ năng và năng lực của người lao động. Việc phối hợp đào tạo thông qua các dự án thực tế, hay cùng xây dựng các chương trình đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp sẽ giúp rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Thứ ba, cần xây dựng hệ sinh thái học tập suốt đời. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng, người lao động không thể học một lần để sử dụng cho cả cuộc đời. Do đó, cần phát triển các mô hình đào tạo linh hoạt, theo hướng mô-đun hóa, chuyên đề hóa, giúp người học có thể liên tục cập nhật kiến thức và kỹ năng mới.
Tóm lại, “đi trước một bước” không phải là đi nhanh hơn, mà là đi đúng hướng. Khi giáo dục có thể dự báo, định hình và chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai, chúng ta không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại, mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho nền kinh tế.
MC: Thưa ông Đỗ Đình Quang, ông có thể chia sẻ kinh nghiệm của Hưng Yên trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực số?
Ông Đỗ Đình Quang: Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực số, tỉnh Hưng Yên xác định đây là nhiệm vụ then chốt gắn với mục tiêu phát triển công nghiệp hiện đại đến năm 2030 và triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Trên cơ sở đó, trước tiên, về hoàn thiện thể chế, tỉnh đã ban hành đồng loạt các chương trình, kế hoạch, đề án và chính sách ưu đãi cho phát triển lực lượng lao động của tỉnh như: Đề án phát triển lực lượng lao động đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa – hiện đại, chuyển đổi số hóa của tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó đặt mục tiêu đến 2030, phổ cập kỹ năng số cơ bản cho 100% người lao động và 20% đạt trình độ nâng cao và chuyên sâu.
Mặt khác, tỉnh cũng ban hành các chính sách đào tạo và thu hút nhân tài. Năm 2025, tỉnh đã tổ chức 2 lớp văn bằng 2 về công nghệ thông tin cho cán bộ công, tập huấn kỹ năng số sử dụng các nền tảng số trong việc cho 100% cán bộ công chức và tổ chức phong trào bình dân học vụ số cho khoảng 500 ngàn công dân của tỉnh.
MC: Nhiều doanh nghiệp chia sẻ họ đang thiếu “nhân lực số” trình độ cao. Vậy theo bà mô hình “đặt hàng đào tạo” liệu có khả thi? Doanh nghiệp cần nhất những kỹ năng gì ở nhân lực số?
Bà Lê Thị Hoài Thương: Về câu hỏi đặt hàng đào tạo có khả thi không? Câu trả lời là có, nhưng cần làm đúng cách. Thực tế cho thấy, tình trạng thiếu nhân lực số không phải do thiếu người học, mà chủ yếu đến từ sự lệch pha giữa nhu cầu của doanh nghiệp và chương trình đào tạo hiện nay.
Mô hình đặt hàng chỉ phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp xác định rõ mình cần gì trong chuyển đổi số, thay vì chỉ dừng lại ở nhận định chung “thiếu nhân lực số”. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xây dựng chương trình đào tạo, phối hợp với nhà trường hoặc đơn vị đào tạo để thiết kế nội dung sát với công việc thực tế. Quan trọng hơn, quá trình đào tạo phải gắn với thực tập, dự án thật và bài toán thật tại doanh nghiệp, thay vì nặng về lý thuyết.
Thực tế trong và ngoài nước cho thấy, những doanh nghiệp coi đào tạo là một khoản đầu tư dài hạn thường chủ động hơn trong việc phát triển nguồn nhân lực số, từ đó cũng đạt hiệu quả bền vững hơn.
Với câu hỏi doanh nghiệp cần nhất những kỹ năng gì ở nhân lực số, theo tôi doanh nghiệp hiện nay không nhất thiết cần toàn bộ nhân sự là lập trình viên hay chuyên gia AI. Thay vào đó, nhu cầu tập trung vào ba nhóm kỹ năng chính.
Thứ nhất là kỹ năng dữ liệu và tư duy số. Người lao động cần biết đọc, hiểu và sử dụng dữ liệu trong công việc hằng ngày, đồng thời hình thành tư duy ra quyết định dựa trên dữ liệu thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm.
Thứ hai là kỹ năng vận hành và cải tiến quy trình số. Nhân sự cần hiểu quy trình doanh nghiệp, biết cách ứng dụng công nghệ để cải tiến quy trình, đồng thời sử dụng thành thạo các nền tảng như ERP, CRM hay hệ thống quản lý chuỗi cung ứng.
Thứ ba là kỹ năng mềm trong môi trường số. Đó là khả năng học nhanh, thích ứng với công nghệ mới, làm việc liên ngành giữa các bộ phận như công nghệ, sản xuất, kinh doanh và tuân thủ, cùng với tư duy đổi mới và sẵn sàng đề xuất cải tiến.
Về thông điệp cốt lõi: Có thể thấy, thiếu nhân lực số không thể giải quyết bằng đào tạo đại trà. Mô hình “đặt hàng đào tạo” chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp xác định rõ nhu cầu cụ thể, chủ động đồng hành với cơ sở đào tạo và coi phát triển nhân lực số là trụ cột lâu dài trong nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
MC: Kết quả triển khai Chương trình quốc gia Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hoá giai đoạn 2021-2030 (Chương trình 1322) giai đoạn 2021-2025 chỉ rõ, bên cạnh những thành tựu đạt được, việc đào tạo, chứng nhận chuyên gia năng suất cho các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra. Từ góc độ cơ sở đào tạo, ông có kiến nghị gì để để cải thiện trong giai đoạn tới?
PGS. TS Ngô Văn Quang: Từ góc độ cơ sở đào tạo, tôi cho rằng việc triển khai Chương trình 1322 thời gian qua đã đi đúng hướng, thể hiện định hướng rõ ràng trong phát triển đội ngũ chuyên gia năng suất. Tuy nhiên, một điểm hạn chế là thiếu sự đồng bộ trong công tác đào tạo và phát triển lực lượng chuyên gia. Do đó, để hoàn thành mục tiêu trong giai đoạn tới, theo tôi cần tập trung vào ba nhóm giải pháp mang tính nền tảng.
|
Việc xây dựng khung năng lực cần tham chiếu các chuẩn quốc tế như Lean, Six Sigma hay quản lý chất lượng toàn diện (TQM), đồng thời bổ sung các yêu cầu mới trong bối cảnh chuyển đổi số. Khung này không chỉ phục vụ cải tiến quy trình truyền thống mà còn tích hợp các năng lực số, từ đó tạo ra một chuẩn chung cho đào tạo và chứng nhận chuyên gia năng suất.
|
Thứ nhất, cần chuẩn hóa khung năng lực chuyên gia năng suất ở cấp quốc gia. Khung năng lực này nên bao gồm bốn nhóm chính: (i) kỹ năng cải tiến và tối ưu hóa quy trình; (ii) kỹ năng về dữ liệu; (iii) năng lực quản trị và triển khai giải pháp; và (iv) năng lực dẫn dắt thay đổi.
Việc xây dựng khung năng lực cần tham chiếu các chuẩn quốc tế như Lean, Six Sigma hay quản lý chất lượng toàn diện (TQM), đồng thời bổ sung các yêu cầu mới trong bối cảnh chuyển đổi số. Khung này không chỉ phục vụ cải tiến quy trình truyền thống mà còn tích hợp các năng lực số, từ đó tạo ra một chuẩn chung cho đào tạo và chứng nhận chuyên gia năng suất.
Thứ hai, cần đổi mới mạnh mẽ phương pháp đào tạo theo hướng thực chiến. Đào tạo chuyên gia năng suất không thể chỉ dừng ở lý thuyết, mà phải gắn chặt với các dự án thực tế tại doanh nghiệp và địa phương.
Thực tiễn cho thấy, khi tham gia giải quyết các bài toán cụ thể như tối ưu chi phí, nâng cao hiệu suất hay cải thiện quy trình, người học sẽ tích lũy được năng lực thực chất. Quan trọng hơn, kết quả đào tạo cần được đo lường bằng hiệu quả mang lại trong thực tế, thay vì chỉ dừng ở bằng cấp hay chứng chỉ.
Thứ ba, cần thúc đẩy sự kết hợp giữa năng suất truyền thống và công nghệ số, hướng tới mô hình năng suất thông minh. Trong đó, dữ liệu – đặc biệt là dữ liệu theo thời gian thực sẽ trở thành nền tảng cho việc ra quyết định.
Việc ứng dụng các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, nền tảng số hay công cụ phân tích dữ liệu sẽ giúp chuyên gia năng suất nâng cao hiệu quả, đồng thời tạo ra giá trị mới cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Từ những định hướng trên, tôi cho rằng trong thời gian tới cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Chỉ khi hình thành được một hệ sinh thái đào tạo và phát triển chuyên gia năng suất mang tính đồng bộ, chúng ta mới có thể tạo ra lực lượng đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
MC: Cũng với câu hỏi trên, Hưng Yên sẽ có giải pháp gì để cụ thể hoá mục tiêu tăng cường đội ngũ chuyên gia năng suất, thưa ông?
Ông Đỗ Đình Quang: UBND tỉnh Hưng Yên đã ban hành Kế hoạch tăng cường, đổi mới hoạt động đo lường; nâng cao năng suất, chất lượng và quản lý truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030, trong đó có các nhiệm vụ giải pháp:
Hỗ trợ các giải pháp nâng cao năng suất chất lượng cho ít nhất 50 tổ chức, doanh nghiệp với các nội dung hỗ trợ: Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở; chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy; xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến chất lượng, áp dụng đồng bộ các giải pháp nâng cao năng suất chất lượng trong tổ chức, doanh nghiệp.

Công ty TNHH Nestlé Việt Nam ứng dụng công nghệ trong sản xuất.
Gắn kết chặt chẽ nội dung về năng suất chất lượng với các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp tỉnh, cấp bộ và quốc gia bao gồm: Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia; Chương trình phát triển công nghệ cao; Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia; Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ,… góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh khi đưa vào áp dụng tại tổ chức, doanh nghiệp.
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến về hệ thống quản lý tiên tiến, công cụ cải tiến năng suất chất lượng, nhất là các công cụ hỗ trợ cho sản xuất thông minh, dịch vụ thông minh, năng suất xanh vào doanh nghiệp; các giải pháp ứng dụng (sản xuất thông minh, chuyển đổi số…) cải tiến hiệu quả quản lý, kỹ năng đổi mới sáng tạo, cải thiện các yếu tố nội tại của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; phối hợp với một số trường đại học, cao đẳng xây dựng khung chương trình hướng nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng trên cơ sở gắn kết với nhu cầu của doanh nghiệp.
MC: Vâng, câu hỏi cuối xin được gửi tới cả 3 vị khách mời!
Có thể khẳng định nguồn nhân lực số chính là chìa khóa nâng cao năng suất doanh nghiệp đồng thời đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền khoa học công nghệ phát triển và chuyển đổi số thành công.
Nếu lựa chọn một yếu tố quan trọng nhất, theo quý vị, đâu là “chìa khóa” để nâng cao năng suất doanh nghiệp thông qua nhân lực số?
– Xin mời PGS. TS Ngô Văn Quang!
PGS. TS Ngô Văn Quang: Như chúng ta đã trao đổi, theo tôi, yếu tố cốt lõi và mang tính quyết định chính là tư duy số của nguồn nhân lực. Khi con người có tư duy số, có định hướng rõ ràng thì việc ứng dụng công nghệ sẽ trở nên hiệu quả hơn. Xa hơn, với sự đồng hành của Nhà nước và doanh nghiệp, chúng ta hoàn toàn có thể tiến tới làm chủ công nghệ trong tương lai.
Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh vai trò của sự phối hợp giữa ba trụ cột quan trọng:
Thứ nhất là vai trò của cơ quan quản lý nhà nước. Thời gian qua, Trung ương, Chính phủ và các bộ, ngành, đặc biệt là lĩnh vực khoa học – công nghệ và giáo dục đào tạo đã ban hành nhiều chiến lược, chính sách và khung năng lực quan trọng. Vấn đề đặt ra là làm sao các chính sách này thực sự đi vào cuộc sống, tạo ra giá trị thực tiễn và góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số.
Thứ hai là vai trò của các cơ sở đào tạo. Chương trình đào tạo cần gắn chặt với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của xã hội và thị trường lao động. Giáo dục đại học không chỉ dừng ở đào tạo và nghiên cứu, mà cần đi trước một bước, đóng vai trò hỗ trợ và dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế.
Thứ ba là vai trò của doanh nghiệp. Đây là nơi trực tiếp sử dụng và “đặt hàng” nguồn nhân lực. Do đó, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, từ xây dựng chương trình đến đánh giá năng lực, nhằm bảo đảm nhân lực đáp ứng đúng yêu cầu thực tiễn.
Khi ba trụ cột này được kết nối chặt chẽ và vận hành đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực – đặc biệt là nhân lực số sẽ được nâng lên rõ rệt, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho phát triển trong tương lai.
MC: Xin mời ông Đỗ Đình Quang!
Ông Đỗ Đình Quang: Yếu tố quan trọng nhất không phải chúng ta có bao nhiêu công nghệ, mà là khả năng của nhân lực số trong việc chuyển hoá công nghệ này thành thay đổi quy trình làm việc, cụ thể là tự động hóa, quyết định dựa vào dữ liệu hay mở ra mô hình mới.
Rất nhiều doanh nghiệp đầu tư phần mềm nhưng năng suất tăng không đáng kể vì vẫn làm theo cách cũ. Điều này cho thấy: công nghệ chỉ là công cụ, còn nhân lực số mới là người tạo ra thay đổi thực sự. Khi quy trình được thiết kế lại theo tư duy số, năng suất sẽ tăng một cách tự nhiên và bền vững.
– MC: Xin mời bà Lê Thị Hoài Thương!
Bà Lê Thị Hoài Thương: Yếu tố quan trọng nhất để nâng cao năng suất thông qua nhân lực số chính là xây dựng tư duy số, khi mỗi người lao động và nhà quản lý biết sử dụng dữ liệu và công nghệ để cải tiến công việc hằng ngày. Bởi công nghệ có thể mua được, nhưng tư duy số mới là nền tảng tạo ra năng suất bền vững.
Nếu chỉ nhấn mạnh một yếu tố quan trọng nhất để nâng cao năng suất doanh nghiệp thông qua nhân lực số, tôi sẽ chọn năng lực làm chủ dữ liệu của con người. Đầu tư cho nhân lực số không chỉ là đào tạo kỹ năng công nghệ, mà là trao cho con người khả năng hiểu dữ liệu, tin vào dữ liệu và hành động dựa trên dữ liệu. Khi đó, năng suất sẽ tự nhiên được nâng lên.
MC: Vâng, xin cảm ơn những chia sẻ của các vị khách mời!
Thưa quý vị, trong kỷ nguyên số, công nghệ có thể mua, nhưng con người thì phải được đào tạo và phát triển. Nhân lực số không chỉ là yếu tố hỗ trợ, mà chính là nền tảng quyết định năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực số vì vậy không phải là nhiệm vụ riêng của một chủ thể, mà đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp.
Hy vọng những chia sẻ trong chương trình hôm nay sẽ góp phần gợi mở thêm các giải pháp thiết thực nhằm phát triển nguồn nhân lực số, qua đó thúc đẩy năng suất và tăng trưởng bền vững.
Xin trân trọng cảm ơn các vị khách mời và quý vị khán giả đã theo dõi chương trình.
Xin kính chào và hẹn gặp lại!
Theo VietQ
Thứ Năm, Tháng TưTháng Tư 9, 2026 @ 16:53
Hà Tĩnh truy xuất nguồn gốc nông sản, nâng tầm chất lượng và mở rộng thị trường
Tại Hà Tĩnh, việc triển khai đồng bộ hệ thống truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp nâng cao giá trị nông sản mà còn tạo nền tảng cho phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nông sản không còn chỉ cạnh tranh về sản lượng mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng chứng minh nguồn gốc và chất lượng. Nhận thức rõ điều này, Hà Tĩnh đã chủ động xây dựng kế hoạch triển khai truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2035. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm đáp ứng các yêu cầu khắt khe của thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Việc triển khai truy xuất nguồn gốc không chỉ dừng lại ở việc gắn mã hay cung cấp thông tin sản phẩm, mà hướng đến xây dựng một hệ thống dữ liệu đồng bộ, minh bạch và có khả năng kết nối liên thông. Trong đó, Hà Tĩnh tập trung ưu tiên các sản phẩm chủ lực, đặc sản địa phương, từng bước chuẩn hóa dữ liệu và tích hợp với hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia. Điều này giúp quá trình kiểm tra, giám sát và truy vết sản phẩm trở nên nhanh chóng, chính xác hơn, đồng thời tăng độ tin cậy trên thị trường.
Trong giai đoạn 2026–2030, Hà Tĩnh tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản
Một điểm đáng chú ý là định hướng ứng dụng công nghệ số trong toàn bộ chuỗi giá trị nông sản. Không chỉ dừng ở số hóa thông tin, tỉnh còn đặt mục tiêu từng bước ứng dụng các công nghệ phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo nhằm hỗ trợ quản lý chất lượng, phát hiện sớm rủi ro và tối ưu hóa quy trình sản xuất. Đây chính là nền tảng quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số nông nghiệp, hướng tới mô hình sản xuất thông minh và bền vững.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng với sự thay đổi về nhận thức. Vì vậy, Hà Tĩnh đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền, đào tạo cho doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân. Thông qua các chương trình tập huấn, các chủ thể trong chuỗi sản xuất được nâng cao hiểu biết về truy xuất nguồn gốc, từ đó chuyển đổi tư duy sản xuất theo hướng minh bạch, có trách nhiệm và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường. Đây chính là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của hệ thống.
Song song với đó, tỉnh cũng thúc đẩy xây dựng các mô hình chuỗi liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản đáp ứng đầy đủ yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm. Việc kết nối với hệ thống truy xuất của các bộ, ngành trung ương không chỉ giúp bảo đảm tính đồng bộ dữ liệu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho nông sản địa phương mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu.
Công tác kiểm tra, giám sát cũng được tăng cường nhằm bảo đảm việc thực hiện truy xuất nguồn gốc đi vào thực chất. Những trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm, qua đó góp phần giữ vững uy tín nông sản Hà Tĩnh và củng cố niềm tin của người tiêu dùng.
Về dài hạn, mục tiêu đến năm 2035 là hình thành một hệ sinh thái dữ liệu số toàn diện cho ngành nông nghiệp, trong đó truy xuất nguồn gốc được áp dụng rộng rãi cho hầu hết sản phẩm. Khi đó, mỗi sản phẩm không chỉ mang giá trị vật chất mà còn chứa đựng đầy đủ thông tin về hành trình sản xuất, tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững.
Gia Linh
Thứ Hai, Tháng TưTháng Tư 6, 2026 @ 22:19
Đẩy nhanh truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử, siết chặt quản lý khai thác
Việc triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) đang được thúc đẩy mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, trở thành công cụ then chốt nhằm kiểm soát khai thác, chống IUU và nâng cao năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam đang chịu áp lực lớn từ các yêu cầu quốc tế về chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào quản lý trở thành yêu cầu cấp thiết. Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) được triển khai nhằm số hóa toàn bộ quy trình từ khai thác, cập cảng, bốc dỡ đến xác nhận nguồn gốc, qua đó giúp minh bạch hóa chuỗi cung ứng và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Theo lộ trình, hệ thống eCDT đã chính thức được áp dụng từ đầu năm 2026, yêu cầu các tàu cá, cảng cá và cơ quan chức năng thực hiện khai báo điện tử khi tàu xuất – nhập cảng, đồng thời cập nhật sản lượng khai thác. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong quá trình chuyển đổi số ngành thủy sản, tạo nền tảng dữ liệu đồng bộ phục vụ công tác giám sát và điều hành.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, truy xuất nguồn gốc đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với nhiều thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy tiến độ vẫn còn chậm và chưa đồng đều giữa các địa phương. Tỷ lệ tàu cá thực hiện khai báo trên hệ thống còn thấp so với tổng số tàu đang hoạt động. Điều này phản ánh những khó khăn trong quá trình chuyển đổi từ phương thức quản lý truyền thống sang môi trường số, đặc biệt khi một bộ phận ngư dân còn hạn chế về kỹ năng công nghệ và chưa quen với quy trình khai báo điện tử.
Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật tại nhiều cảng cá chưa đáp ứng yêu cầu vận hành hệ thống, trong khi công tác hướng dẫn, tập huấn ở một số nơi còn chưa sâu sát. Việc kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm cũng chưa thực sự quyết liệt, dẫn đến tình trạng thực hiện chưa nghiêm túc ở một số địa phương, ảnh hưởng đến hiệu quả chung của hệ thống.
Dù còn nhiều thách thức, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của eCDT trong việc siết chặt quản lý khai thác thủy sản. Hệ thống cho phép theo dõi xuyên suốt hành trình khai thác của tàu cá, từ khi rời cảng đến khi cập cảng và tiêu thụ sản phẩm. Nhờ đó, cơ quan quản lý có thể kiểm soát chính xác sản lượng, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm và nâng cao tính tuân thủ của ngư dân.
Đặc biệt, truy xuất nguồn gốc điện tử còn đóng vai trò “chìa khóa” giúp thủy sản Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế. Việc minh bạch hóa thông tin nguồn gốc không chỉ giúp nâng cao uy tín sản phẩm mà còn góp phần quan trọng trong nỗ lực gỡ bỏ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu, mở rộng cơ hội xuất khẩu sang các thị trường lớn như EU và Mỹ.
Để thúc đẩy triển khai hiệu quả hệ thống eCDT, các cơ quan chức năng đang yêu cầu địa phương tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn ngư dân sử dụng hệ thống; đồng thời đầu tư nâng cấp hạ tầng cảng cá, trang thiết bị kỹ thuật và nguồn nhân lực. Song song với đó, cần siết chặt công tác kiểm tra, xử lý vi phạm nhằm tạo tính ràng buộc và đảm bảo tính nghiêm minh trong thực thi.
Có thể thấy, việc đẩy nhanh triển khai truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Khi hệ thống được vận hành đồng bộ và hiệu quả, ngành thủy sản Việt Nam sẽ tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển minh bạch, có trách nhiệm và bền vững, qua đó nâng cao vị thế trên bản đồ thủy sản toàn cầu.
Gia Linh
Thứ Tư, Tháng TưTháng Tư 1, 2026 @ 19:13
Giải mã ‘chìa khóa vàng’ tiến vào thị trường Halal toàn cầu
Ngày 01/04/2026, Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT) và Trung tâm Chứng nhận Halal Quốc gia (HALCERT) đã tổ chức khóa đào tạo Giới thiệu các tiêu chuẩn Halal với hai phiên chuyên đề mang tính thực tiễn cao: Thực phẩm và Du lịch. Khoá đào tạo được tổ chức với mục đích trang bị kiến thức cơ bản về Halal và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận thị trường “bị bỏ quên” trị giá hàng nghìn tỷ Đô la Mỹ này.
Phát biểu khai mạc khóa đào tạo, ThS. Nguyễn Tuấn Anh – Quyền Giám đốc QUACERT cho biết, trong thời gian gần đây, ngành kinh tế Halal ngày càng nhận được sự quan tâm sâu sắc từ Chính phủ Việt Nam. Minh chứng là việc ban hành Đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển ngành Halal Việt Nam đến năm 2030” (Quyết định số 10/QĐ-TTg ngày 14/2/2023), cùng với đó là Nghị định về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa Halal đang được hoàn thiện và dự kiến ban hành trong thời gian tới.
Cũng tại khóa học, ông Tuấn Anh chia sẻ thêm về những kết quả tích cực trong hoạt động của QUACERT và HALCERT thời gian qua, đặc biệt là việc tham gia trên 20 chương trình đào tạo, hội nghị, hội thảo, giới thiệu tiêu chuẩn tại các Bộ, Ban, Ngành, Cơ sở Giáo dục…

ThS. Nguyễn Tuấn Anh – Quyền Giám đốc QUACERT.
Thực phẩm Halal – vùng đất màu mỡ chờ được khai phá
Tại khóa học, trong khuôn khổ chuyên đề về thực phẩm Halal, ông Ramlan Bin Osman – Giám đốc HALCERT, với hơn 20 năm kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực Halal đã trực tiếp hướng dẫn học viên tiếp cận từ những nền tảng cốt lõi của hệ thống tiêu chuẩn này. Nội dung đào tạo không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn giúp học viên hiểu rõ bản chất, nguyên tắc và cách thức áp dụng trong thực tế sản xuất, chế biến thực phẩm.
Chia sẻ tại khóa học, ông Ramlan Bin Osman nhấn mạnh: “Halal ngày nay đã vượt xa ranh giới của một quy định tôn giáo đơn thuần. Nó đã trở thành một bảo chứng toàn cầu cho sự tinh khiết, an toàn vệ sinh và chất lượng vượt trội. Hiểu đúng bản chất của Halal chính là bước đi đầu tiên, mang tính quyết định để thực phẩm Việt Nam tự tin chinh phục người tiêu dùng trên toàn thế giới.”

Ông Ramlan Bin Osman – Giám đốc HALCERT.
Du lịch thân thiện với người Hồi giáo – thêm giá trị, mở rộng tệp khách hàng
Với chủ đề thứ hai “Dịch vụ du lịch thân thiện với người Hồi giáo” theo yêu cầu của TCVN 14230:2024, ông Ramlan Bin Osman, Giám đốc HALCERT, chia sẻ rằng Việt Nam sở hữu cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp và nền văn hóa đa dạng. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là làm sao để du khách Hồi giáo thực sự cảm thấy an tâm và được tôn trọng khi đến du lịch tại Việt Nam.
Để giải quyết thách thức này, ông Osman nhấn mạnh rằng du khách Hồi giáo là nhóm khách hàng có khả năng chi trả cao và rất trung thành nếu họ cảm nhận được sự tôn trọng đối với đức tin và lối sống của mình. Ông giải thích thêm rằng việc các doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn TCVN 14230:2024 không phải là tự tạo ra rào cản, ngược lại, chính là đang trải tấm thảm đỏ, gửi lời chào mừng nồng hậu và chuyên nghiệp nhất của ngành du lịch Việt Nam đến cộng đồng Hồi giáo toàn cầu.


Toàn cảnh khóa học.
Ngoài ra, chương trình cũng nhận được những ý kiến đóng góp từ PGS. TS. Lê Phước Minh – Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, cùng các đại diện đến từ cộng đồng người Hồi giáo, và các doanh nghiệp thành công trong lĩnh vực Halal tại Việt Nam.
Thông qua khoá đào tạo, phía QUACERT và HALCERT cam kết sẽ luôn là bệ phóng vững chắc, sát cánh cùng cộng đồng doanh nghiệp trên chặng đường đưa thương hiệu Việt tỏa sáng trên bản đồ Halal quốc tế.

Hồng Quân – Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT)
Thứ Sáu, Tháng Ba 27, 2026 @ 15:50
TP.HCM đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản: Tăng minh bạch, siết chất lượng thị trường
Việc TP.HCM triển khai đồng bộ truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản không chỉ nhằm kiểm soát chất lượng hàng hóa mà còn hướng tới xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và thị trường xuất khẩu.
UBND Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) mới đây yêu cầu triển khai truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản trên toàn địa bàn. Đây không đơn thuần là một yêu cầu kỹ thuật, mà là giải pháp mang tính hệ thống nhằm minh bạch hóa toàn bộ quá trình từ sản xuất, chế biến đến phân phối sản phẩm.
Theo chỉ đạo, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM giữ vai trò đầu mối tổ chức triển khai, phối hợp với các sở, ngành và địa phương để xây dựng các giải pháp truy xuất nguồn gốc phù hợp với điều kiện thực tiễn. Trọng tâm là đưa các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất tham gia vào hệ thống truy xuất nguồn gốc, qua đó từng bước hình thành cơ sở dữ liệu thống nhất về nông sản trên địa bàn.
Đặc biệt, hệ thống truy xuất nguồn gốc của Thành phố được kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cũng như Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia. Khi được tích hợp, mỗi sản phẩm sẽ có “hồ sơ điện tử” ghi nhận đầy đủ thông tin về xuất xứ, quy trình sản xuất, kiểm định chất lượng và lưu thông. Người tiêu dùng có thể dễ dàng kiểm tra thông tin này thông qua mã QR, góp phần nâng cao niềm tin vào thị trường.
TP.HCM triển khai truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản
Song song với việc xây dựng hệ thống, công tác tuyên truyền và hướng dẫn cũng được xác định là nhiệm vụ then chốt. Các cơ quan chức năng sẽ hỗ trợ doanh nghiệp, người sản xuất tiếp cận công nghệ, chuẩn hóa quy trình và tuân thủ các quy định về truy xuất nguồn gốc. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh phần lớn sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính nhỏ lẻ, chưa đồng đều về trình độ quản lý và ứng dụng công nghệ.
Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM được giao nhiệm vụ thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm liên quan đến truy xuất nguồn gốc. Việc này không chỉ nhằm đảm bảo tính chính xác của thông tin mà còn góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các yếu tố về thể chế và nguồn lực cũng được chú trọng. Sở Tài chính sẽ tham mưu bố trí kinh phí triển khai, trong khi Sở Tư pháp tham gia rà soát, hoàn thiện khung pháp lý, bảo đảm tính đồng bộ và khả thi trong quá trình thực hiện. Cách tiếp cận này cho thấy Thành phố đang triển khai truy xuất nguồn gốc không theo kiểu phong trào, mà theo hướng bài bản, có sự phối hợp liên ngành.
Việc TP.HCM đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc cũng nằm trong xu hướng chung của ngành nông nghiệp Việt Nam, khi yêu cầu về minh bạch thông tin sản phẩm ngày càng trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, đặc biệt với hàng hóa xuất khẩu. Các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản đều yêu cầu truy xuất đầy đủ chuỗi giá trị sản phẩm, từ vùng nguyên liệu đến khâu chế biến và vận chuyển.
Trong bối cảnh đó, truy xuất nguồn gốc không chỉ là công cụ quản lý mà còn là “tấm vé thông hành” giúp nông sản Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. Đối với TP.HCM – một trung tâm tiêu thụ và phân phối lớn của cả nước việc kiểm soát nguồn gốc hàng hóa còn góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hạn chế hàng giả, hàng kém chất lượng.
Gia Linh
Thứ Sáu, Tháng Ba 27, 2026 @ 15:47
Hoàn thiện nền tảng tiêu chuẩn, thúc đẩy số hóa nâng cao năng suất ngành nuôi trồng thủy sản
Tăng trưởng ấn tượng nhưng đối mặt rào cản kỹ thuật ngày càng dày đặc, ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp bách: hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật gắn với chuyển đổi số nếu không muốn mất lợi thế cạnh tranh.
Ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình sản xuất hiện đại, dựa trên công nghệ và dữ liệu. Tuy nhiên, trong khi công nghệ phát triển nhanh, hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật vẫn chưa theo kịp, tạo ra khoảng trống đáng lo ngại trong kiểm soát chất lượng và an toàn sản phẩm.

Thực tế cho thấy, thủy sản vẫn là một trong những trụ cột của nông nghiệp Việt Nam. Năm 2025, tổng sản lượng toàn ngành đạt gần 10 triệu tấn, trong đó nuôi trồng chiếm hơn 6,1 triệu tấn. Kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 11,3 tỷ USD, tăng trên 10% so với năm trước. Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong những tháng đầu năm 2026 với mức tăng hơn 23%, cho thấy dư địa phát triển vẫn còn lớn.
Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh cũng kéo theo áp lực lớn về chất lượng và tiêu chuẩn. Các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chứng nhận bền vững, kiểm soát môi trường và minh bạch chuỗi cung ứng. Nếu không đáp ứng được các tiêu chí này, nguy cơ mất thị trường là hiện hữu.
Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là hệ thống tiêu chuẩn trong nước chưa đồng bộ, chưa bao phủ đầy đủ các khâu trong chuỗi sản xuất. Đặc biệt, các tiêu chuẩn liên quan đến quản lý môi trường nuôi, an toàn sinh học và ứng dụng công nghệ số vẫn còn thiếu hoặc chưa được cập nhật theo thông lệ quốc tế.
Trong khi đó, xu hướng số hóa trong nuôi trồng thủy sản đang diễn ra nhanh chóng. Các hệ thống giám sát môi trường nuôi, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn và tự động hóa quy trình đang dần thay đổi phương thức sản xuất truyền thống. Tuy nhiên, nếu thiếu khung tiêu chuẩn đi kèm, việc ứng dụng công nghệ sẽ rơi vào tình trạng manh mún, khó kiểm soát và thiếu tính liên kết.
Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý mà còn đóng vai trò “xương sống” cho quá trình chuyển đổi số của ngành. Các tiêu chuẩn cần được xây dựng theo hướng tích hợp công nghệ, cho phép thu thập, chuẩn hóa và chia sẻ dữ liệu một cách minh bạch. Đây sẽ là nền tảng để nâng cao hiệu quả sản xuất, kiểm soát chất lượng và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc từ thị trường.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, lợi thế không còn nằm ở chi phí thấp mà ở khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và kiểm soát chất lượng. Nếu không kịp thời hoàn thiện “hạ tầng tiêu chuẩn”, ngành thủy sản sẽ khó duy trì đà tăng trưởng và nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Hiền Anh
Thứ Hai, Tháng Hai 16, 2026 @ 22:13
Mã số, mã vạch – ‘chìa khóa’ thúc đẩy thương mại và hội nhập quốc tế
Ứng dụng mã số, mã vạch giúp doanh nghiệp minh bạch nguồn gốc hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và hỗ trợ cơ quan quản lý kiểm soát xuất xứ, chống gian lận trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, việc ứng dụng mã số, mã vạch đang trở thành một trong những công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và minh bạch hóa chuỗi cung ứng. Không chỉ đơn thuần là công cụ nhận diện sản phẩm, mã số, mã vạch ngày nay còn gắn với hệ sinh thái dữ liệu số, phục vụ quản lý hải quan, thuế và truy xuất nguồn gốc hàng hoá.
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, việc áp dụng mã số, mã vạch là yêu cầu tất yếu để doanh nghiệp tham gia thương mại điện tử toàn cầu và chuỗi cung ứng quốc tế. Mã số, mã vạch giúp tiêu chuẩn hóa thông tin sản phẩm, tạo điều kiện để hàng hóa Việt Nam kết nối với hệ thống phân phối hiện đại trong và ngoài nước. Thông tin này được tích hợp với dữ liệu của cơ quan hải quan, thuế, từ đó hỗ trợ quá trình khai báo, thông quan, tính thuế và kiểm soát luồng hàng xuất nhập khẩu nhanh chóng, chính xác hơn.
Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, hệ thống mã số, mã vạch tại Việt Nam được quản lý thống nhất theo tiêu chuẩn quốc tế GS1. Khi doanh nghiệp đăng ký và sử dụng mã số theo chuẩn GS1, sản phẩm có thể được nhận diện toàn cầu, tạo thuận lợi khi xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để hàng hóa tham gia vào các hệ thống siêu thị, sàn thương mại điện tử xuyên biên giới.

Mã số, mã vạch chính là “chìa khóa số” giúp doanh nghiệp Việt Nam mở rộng cánh cửa ra thị trường quốc tế. Ảnh minh họa
Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động áp dụng mã số, mã vạch và hệ thống truy xuất nguồn gốc để nâng cao giá trị thương hiệu. Công ty Vinamilk là một trong những đơn vị tiên phong triển khai hệ thống mã số, mã vạch theo chuẩn GS1 kết hợp mã QR truy xuất nguồn gốc, cho phép người tiêu dùng kiểm tra thông tin sản phẩm từ nguyên liệu đầu vào đến quy trình sản xuất.
Trong lĩnh vực bán lẻ, Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại TP.HCM (Saigon Co.op) đã ứng dụng mã số, mã vạch và hệ thống quản lý dữ liệu hàng hóa đồng bộ trong toàn chuỗi siêu thị, góp phần kiểm soát chất lượng và tối ưu vận hành logistics. Ở ngành nông sản xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp như Công ty Cổ phần Nafoods Group cũng triển khai truy xuất nguồn gốc bằng mã số, mã vạch và mã QR để đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường châu Âu và Mỹ.
Một ví dụ điển hình khác về doanh nghiệp áp dụng mã số, mã vạch và truy xuất nguồn gốc là Dalat Milk Supply Chain – một chuỗi sản xuất và phân phối sữa tại Việt Nam. Doanh nghiệp này đã triển khai tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc GS1 toàn cầu, mã hóa dữ liệu sản phẩm, số lô, số mẻ sản xuất vào hệ thống dữ liệu trung tâm theo chuẩn quốc tế. Khi đó, mọi bước trong chuỗi cung ứng – từ trang trại, nhà máy đến điểm bán đều có thể được truy xuất nhanh chóng chỉ trong vài giây, giúp nâng cao tính minh bạch và tin cậy của sản phẩm đối với người tiêu dùng trong nước và đối tác quốc tế.
Đặc biệt hiện nay, trong bối cảnh căng thẳng thương mại và các biện pháp phòng vệ gia tăng trên thế giới, vấn đề gian lận xuất xứ, giả mạo nhãn mác đang trở thành thách thức lớn. Nhiều vụ việc gian lận xuất xứ bị phát hiện thời gian qua cho thấy nguy cơ hàng hóa “đội lốt” xuất xứ Việt Nam để né thuế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín doanh nghiệp chân chính.
Theo thông tin từ Cục Hải quan, cơ quan hải quan đã tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn hành vi gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp. Trong bối cảnh đó, mã số, mã vạch được xem là một “lá chắn kỹ thuật” quan trọng. Khi được tích hợp với hệ thống dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu hải quan, mã số giúp cơ quan chức năng chủ động phát hiện dấu hiệu bất thường trong luồng hàng hóa. Thông qua truy xuất nguồn gốc, cơ quan quản lý có thể xác định nơi sản xuất, đơn vị chịu trách nhiệm và quá trình lưu thông sản phẩm. Điều này không chỉ hỗ trợ chống hàng giả, hàng nhái mà còn bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp.
Việc triển khai truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ mã số, mã vạch và mã QR đang được đẩy mạnh nhằm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe. Đặc biệt với nông sản, thực phẩm, thủy sản – những ngành xuất khẩu chủ lực yêu cầu về minh bạch chuỗi cung ứng, an toàn thực phẩm và xuất xứ đang trở thành điều kiện bắt buộc. Mã số, mã vạch kết hợp với nền tảng truy xuất điện tử giúp người tiêu dùng và đối tác quốc tế kiểm tra thông tin sản phẩm một cách nhanh chóng, góp phần gia tăng niềm tin.
Không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp, việc áp dụng mã số, mã vạch còn giúp cơ quan quản lý nhà nước nâng cao hiệu quả điều hành. Thông qua tích hợp dữ liệu với hệ thống hải quan và thuế, việc khai báo điện tử, tính thuế và kiểm soát dòng hàng hóa được thực hiện đồng bộ, giảm thiểu thủ tục giấy tờ. Theo Cục Hải quan, chuyển đổi số và áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý xuất nhập khẩu đã góp phần rút ngắn thời gian thông quan, tạo thuận lợi thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ở góc độ doanh nghiệp, mã số, mã vạch còn giúp tối ưu quản lý kho bãi, kiểm soát tồn kho và theo dõi vòng đời sản phẩm. Việc tự động hóa khâu quét mã trong sản xuất, vận chuyển và phân phối giúp giảm sai sót thủ công, tiết kiệm chi phí và tăng hiệu suất vận hành. Trong thương mại điện tử, mã số sản phẩm là điều kiện bắt buộc để niêm yết hàng hóa trên nhiều sàn quốc tế, đồng thời hỗ trợ quản lý đơn hàng và logistics xuyên biên giới.
Các chuyên gia nhận định rằng, trong kỷ nguyên số, mã số, mã vạch không còn là công cụ tùy chọn mà là nền tảng bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc chuẩn hóa dữ liệu sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế giúp nâng cao hình ảnh và uy tín hàng Việt Nam trên thị trường thế giới.
Tuy nhiên, để phát huy tối đa hiệu quả, doanh nghiệp cần chủ động đăng ký, duy trì và sử dụng mã đúng quy định; đồng thời kết hợp MSMV với hệ thống quản trị nội bộ và truy xuất nguồn gốc điện tử. Về phía cơ quan quản lý, việc hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường kết nối dữ liệu liên thông giữa các bộ, ngành sẽ là yếu tố then chốt giúp mã số, mã vạch thực sự trở thành công cụ thúc đẩy thương mại và bảo vệ thương hiệu quốc gia.
Trong dòng chảy hội nhập toàn cầu, nơi minh bạch và chuẩn hóa là yêu cầu tiên quyết, mã số, mã vạch chính là “chìa khóa số” giúp doanh nghiệp Việt Nam mở rộng cánh cửa ra thị trường quốc tế, đồng thời góp phần xây dựng môi trường thương mại công bằng, hiện đại và bền vững.
Theo VietQ
Thứ Năm, Tháng Mười Một 27, 2025 @ 14:45
Tăng năng suất, nâng chất lượng ngành thủy sản tại Cần Thơ
Trước những yêu cầu chặt chẽ về chất lượng của thị trường, TP. Cần Thơ đẩy mạnh áp dụng quy trình nuôi tiên tiến, giám sát vùng nuôi nhằm nâng hiệu quả khai thác, nuôi trồng thuỷ sản.
Ngành thủy sản Cần Thơ thời gian qua đang chứng kiến bước tăng tốc rõ rệt khi thành phố đặt trọng tâm vào nâng cao năng suất gắn với chất lượng. Việc quy hoạch lại các vùng nuôi theo hệ sinh thái mặn – lợ – ngọt không chỉ giảm áp lực lên môi trường mà còn tạo nền tảng để người dân áp dụng đồng bộ các mô hình nuôi hiện đại. Những kỹ thuật như nuôi an toàn sinh học, tuần hoàn nước, sử dụng chế phẩm vi sinh hay quản lý dịch bệnh tập trung đã giúp rút ngắn thời gian nuôi, giảm hao hụt và tối ưu chi phí, từ đó nâng năng suất trên cùng diện tích nuôi. Nhờ các giải pháp này, sản phẩm thủy sản của Cần Thơ không chỉ đảm bảo an toàn mà còn đạt hiệu quả sản xuất cao hơn, hướng tới phát triển bền vững của toàn ngành.

Đi cùng với đó, Cần Thơ chú trọng hoàn thiện chuỗi sản xuất chế biến nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường trong và ngoài nước. Thành phố đang đẩy nhanh ứng dụng công nghệ bảo quản sau thu hoạch, hiện đại hóa hệ thống kho lạnh, tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Những nỗ lực này góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm thủy sản Cần Thơ khi tham gia chuỗi cung ứng quốc gia và quốc tế.
Tính đến đầu tháng 10/2025, diện tích nuôi thủy sản của Cần Thơ đạt khoảng 89.740 ha, tương đương 92,99% kế hoạch và tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác ước khoảng 577.516 tấn, tăng 7% so với 2024 cho thấy hiệu quả tích cực từ việc áp dụng quy trình kỹ thuật và cơ cấu lại sản xuất. Công tác quản lý khai thác cũng được chú trọng khi toàn thành phố hiện có 796 tàu khai thác hợp pháp với tổng công suất hơn 210.000 CV, đảm bảo tuân thủ quy định và hạn chế vi phạm IUU.
Song song, các thủ tục liên quan tới đăng ký nuôi trồng, cấp phép lồng bè, chứng nhận an toàn thực phẩm hay cấp giấy xác nhận nguồn gốc được thực hiện chặt chẽ, giúp minh bạch hóa chuỗi giá trị và nâng cao tính tin cậy của sản phẩm. Đây là yếu tố quan trọng trong bối cảnh nhiều thị trường xuất khẩu siết chặt tiêu chuẩn về sự bền vững và an toàn.
Hướng tới giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn 2045, Cần Thơ đặt mục tiêu tiếp tục mở rộng vùng nuôi theo hướng sinh thái, phát triển mạnh các đối tượng thế mạnh như cá tra, cá thát lát, lươn và tôm nước lợ. Thành phố sẽ đầu tư đồng bộ hạ tầng thủy lợi, kho lạnh và cơ sở chế biến, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý chất lượng, thị trường và tổ chức sản xuất. Những định hướng này là nền tảng quan trọng để ngành thủy sản Cần Thơ tiếp tục nâng cao năng suất và khẳng định vị thế trung tâm sản xuất của Đồng bằng sông Cửu Long.
Yến Hoa




















