Thêm 6 yếu tố then chốt giúp tăng năng suất chất lượng sản phẩm

Người viết: Trương Vân - Ngày viết: Tuesday, Jun 16, 2020 | 9:55 - Lượt xem: 123

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, việc nâng cao năng lực cạnh tranh là điều tất yếu đối với cộng đồng doanh nghiệp để tồn tại và phát triển trên thương trường. Để làm được điều đó, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa là yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Dưới đây là 6 yếu tố giúp các doanh nghiệp nâng cao năng suất:

Một là, quản lý thượng nguồn, mục đích của quản lý chất lượng là đảm bảo chất lượng của sản phẩm (bao gồm cả dịch vụ) khi đưa đến tay khách hàng. Vì vậy, đối tượng của quản lý chất lượng chính là chất lượng của sản phẩm. Tuy nhiên, sản phẩm được tạo ra qua nhiều công đoạn nên đối tượng quản lý trực tiếp chính là tất cả các công đoạn tạo ra sản phẩm.

Để quản lý được chất lượng sản phẩm thì cần phải quản lý được yếu tố mang tên công đoạn. Trong quy trình quản lý công đoạn, việc quản lý thượng nguồn rất quan trọng. Nếu doanh nghiệp không đảm bảo việc quản lý thượng nguồn (công đoạn đầu) sẽ dẫn tới những sự cố nghiêm trọng ở hạ nguồn (công đoạn cuối).

6 yếu tố then chốt giúp tăng NSCL sản phẩm

Yếu tố then chốt giúp tăng NSCL sản phẩm.

Hai là, trong quản lý chất lượng, suy nghĩ “dùng dữ liệu để thể hiện đồ vật” luôn được coi trọng. Vì thế, trước khi tiến hành lấy dữ liệu, doanh nghiệp cần làm rõ mục đích và phải lấy dữ liệu phù hợp với mục đích đã đưa ra ban đầu. Trong quản lý chất lượng có hai loại dữ liệu thường được sử dụng là dữ liệu số và dữ liệu ngôn ngữ. Do dữ liệu số thể hiện được rõ ràng cũng như khách quan hiện thực nên thường được sử dụng trong các phương pháp phân tích.

Ba là, QCD+PSME. Đây chính là 7 yếu tố chủ yếu trong công xưởng sản xuất, cũng là các yếu tố được nhiều công ty lựa chọn để quản lý. Trong đó: Chất lượng (Q: Quality): độ thoả mãn khách hàng, số lượng phàn nàn, tỷ lệ lỗi, tỷ lệ sửa chữa, số lượng thay đổi thiết kế sản phẩm… Chi phí (C: Cost): Chi phí tổn thất cơ hội, tỷ lệ hoạt động của thiết bị, công làm lại, lượng tồn kho, kinh phí… Kì hạn (D: Delivery): Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản xuất, tỷ lệ giao hàng đúng hạn, số lần trễ hạn, thời gian đổi mã hàng… Năng suất (P: Productivity): năng lực sản xuất, thời gian đổi mã hàng, thời gian chạy máy… An toàn (S: Safety): số lượng thiết bị có gắn thiết bị an toàn, quản lý vệ sinh, quản lý an toàn… Tính kỷ luật (M: Morale): Tỷ lệ đi làm, số lượng đề án kaizen, kế hoạch đa năng hoá, kế hoạch lấy chứng chỉ nghề, tình hình hoạt động của Câu lạc bộ QC… Môi trường (E: Environment): Hoạt động 5S, vệ sinh công xưởng, xây dựng môi trường dễ làm việc, những yếu tố khác liên quan đến môi trường.

Bốn là, tập trung vào trọng điểm. Nếu chỉ tập trung vào những vấn đề đơn giản nhìn thấy ngay thì sẽ không thể giải quyết tận gốc vấn đề. Thay vào đó, xếp những vấn đề khó nhưng có ảnh hướng lớn tới kết quả vào vị trí ưu tiên cao, rồi tiến hành giải quyết lần lượt từ trên xuống dưới. Trong quá trình phân tích nguyên nhân, cần dùng biểu đồ Pareto để biểu thị số lượng cũng như mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố và tìm ra yếu tố có mức độ ảnh hưởng cao nhất, tập trung giải quyết trước.

Năm là, quản lý dựa trên sự thực. Chính là những việc xảy ra trong thực tế hay những việc đang xảy ra ở hiện tại. Trong quản lý chất lượng, suy nghĩ và phán đoán nên dựa trên sự thực, tránh những suy nghĩ cảm tính, chủ quan. Trong quá trình quản lý dựa trên sự thực, cần lưu ý những điểm sau: Thực hiện triệt để chủ nghĩa “3 hiện” (Hiện trường, hiện vật, hiện thực): Đến tận nơi (hiện trường), xác nhận hiện vật và nắm bắt hiện thực; Thực hiện chủ nghĩa “3 hiện + 2 Nguyên”.

Ngoài “3 hiện” ở trên, chúng ta có hai yếu tố nữa là nguyên lý và nguyên tắc. Có nghĩa là mọi hành động phải được thực hiện trên căn bản là 3 hiện và theo một nguyên lý hay nguyên tắc rõ ràng; Dành thời gian để quan sát hiện tượng, hiện trường và hiện thực; Biểu thị những gì đã quan sát bằng dữ liệu; Dữ liệu thể hiện hiện thực không hẳn chỉ có dữ liệu số, chúng ta còn có để sử dụng dữ liệu ngôn ngữ, hình ảnh hay video; Phân chia giữa nguyên nhân và kết quả (hiện tượng) để suy nghĩ; Tập trung vào sự sai lệch để đánh giá; Phân tầng và phân tích triệt để.

Sáu là, trực quan hoá. Điều này được định nghĩa là phương pháp biểu thị các loại thông tin một cách trực quan thông qua việc sử dụng biểu đồ hoặc đồ thị nhằm mục đích chia sẻ thông tin để sớm phát hiện cũng như giải quyết vấn đề. Trực quan hoá được kì vọng mang lại những hiệu quả như: Sớm phát hiện và giải quyết vấn đề; Công khai, chia sẻ thông tin nhằm thúc đẩy hoạt động kaizen một cách tự giác; Hiện thực hoá vấn đề để đưa ra phương án chống tái phát.

Đặc biệt, việc trực quan hoá những nguy cơ tiềm ẩn, phàn nàn của khách hàng là cách hữu hiệu để chúng ta có thể nhìn thấy những vấn đề tiềm ẩn để tìm được manh mối giải quyết.

N.M