Khoa học và Công nghệ Việt Nam – 60 năm xây dựng và phát triển

Người viết: admin - Ngày viết: Thursday, Nov 28, 2019 | 16:53 - Lượt xem: 116

Khoa học và Công nghệ Việt Nam – 60 năm xây dựng và phát triển

Sáu mươi năm trước, Ủy ban Khoa học Nhà nước, tổ chức tiền thân của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), được thành lập theo Sắc lệnh số 016-SL ngày 4-3-1959 của Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự ra đời của Ủy ban là minh chứng cho tầm nhìn chiến lược của Ðảng và Nhà nước ta về vai trò động lực của KH&CN, trong hoàn cảnh đất nước còn đang đối mặt với muôn vàn khó khăn, gian khổ của công cuộc kiến thiết miền bắc xã hội chủ nghĩa từ nghèo nàn, lạc hậu và đấu tranh trường kỳ giải phóng miền nam.


Sản xuất vắc-xin phối hợp sởi – rubella tại Trung tâm Nghiên cứu, sản xuất vắc-xin và sinh phẩm y tế (Polyvac). Ảnh: THANH HÀ

Những giá trị nền tảng

Với sứ mệnh được định hình ngay từ đầu là phục vụ đắc lực ba mục tiêu quốc gia về sản xuất, dân sinh và quốc phòng, trong điều kiện của một nền khoa học – kỹ thuật non trẻ hết sức thiếu thốn về trang thiết bị nghiên cứu và các nguồn lực cơ bản, Ủy ban Khoa học Nhà nước cùng ngành khoa học đã hoàn thành xuất sắc nhiều nhiệm vụ cấp bách đặt ra trước mắt, đồng thời tổ chức, gây dựng nên những nền móng cơ bản về khoa học và kỹ thuật cho tương lai. Ðất nước sẽ không bao giờ quên công lao của các nhà khoa học, nhà quản lý mà tên tuổi đã đi vào lịch sử như Trần Ðại Nghĩa, Hồ Ðắc Di, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Lương Ðịnh Của, Bùi Huy Ðáp,… và cống hiến to lớn thầm lặng của các cán bộ khoa học những thế hệ đầu tiên.

Các cuộc điều tra, khảo sát tài nguyên, khoáng sản ở nhiều miền đất xa xôi của đất nước đã được khởi đầu thực hiện trong thời kỳ này. Nhiều cán bộ kỹ thuật đã được huy động tham gia thiết kế, thi công các công trình lớn như Ðại thủy nông Bắc Hưng Hải, khu liên hợp gang thép Thái Nguyên, mỏ A-pa-tít Lào Cai, Nhà máy cơ khí Hà Nội; tiếp thu làm chủ kỹ thuật từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em để đưa các nhà máy, xí nghiệp này trở thành những cánh chim đầu đàn của nền công nghiệp non trẻ Việt Nam. Trong nông nghiệp, chúng ta đã có các công trình nghiên cứu ứng dụng giống cây mới và quy trình gieo cấy tiên tiến, bảo đảm lương thực chi viện cho quân và dân miền nam. Các công trình y dược về sốt rét, lây nhiễm, da liễu, ngoại khoa đã phục vụ kịp thời việc chăm sóc sức khỏe nhân dân và lực lượng quân đội trên chiến trường. Hệ thống các công trình nghiên cứu kỹ thuật quân sự chống nhiễu ra-đa, cải tiến tên lửa phòng không, rà phá thủy lôi từ tính và bom từ trường là những thành tựu khoa học rất đáng tự hào, góp phần cùng với quân và dân cả nước đánh thắng cuộc chiến tranh kỹ thuật cao của đối phương, hoàn thành sự nghiệp bảo vệ miền bắc, giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.

Bước sang thời kỳ hòa bình, lực lượng KH&CN nước nhà lại cùng với nhân dân cả nước nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế trong hoàn cảnh bị bao vây, cấm vận đầy khó khăn, thử thách. Từ năm 1980, toàn bộ các tài liệu, tạp chí khoa học, sách tham khảo bằng tiếng Anh không còn được tài trợ và sau khi Liên Xô sụp đổ, số lượng tạp chí khoa học, sách báo, tài liệu tiếng Nga cũng giảm đáng kể. Cơ sở vật chất – kỹ thuật, trang thiết bị nghiên cứu và các nguồn lực đều rất thiếu thốn, nghèo nàn. Ðây là thời kỳ tiếp tục thử thách ý chí và nhiệt huyết nghiên cứu của các cán bộ khoa học Việt Nam. Bằng trí tuệ, nghị lực và tinh thần tự trọng, tự cường được hun đúc từ những năm tháng chiến tranh, lực lượng khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ. Chính trong những năm tháng khó khăn này, đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật đã được huy động tham gia thiết kế, thi công các công trình thế kỷ của Việt Nam, như xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình; khai hoang, cải tạo vùng Ðồng Tháp Mười; xây dựng đường dây 500 kV bắc – nam; khai thác dầu khí ở Biển Ðông hoặc chọn tạo mới các giống cây trồng, làm tiền đề cho sự phát triển các ngành công nghiệp và nông nghiệp của đất nước. Từng bước, lực lượng KH&CN Việt Nam không ngừng học hỏi để trưởng thành, tham gia tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước do Ðảng ta khởi xướng, xóa bỏ cơ chế bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế.

Tạo thế và lực mới

Trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, KH&CN tiếp tục có những bước tiến quan trọng về mọi mặt, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân và củng cố quốc phòng, an ninh. Hành lang pháp lý, cơ chế và chính sách quản lý KH&CN được chú trọng đổi mới, hướng đến tiệm cận với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, tạo môi trường ngày càng thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Ðã từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu, thực hiện cơ chế khoán chi và kiểm soát chi thông thoáng; gắn nhiệm vụ nghiên cứu với thực tiễn và thị trường; kiên trì thực hiện trao quyền tự chủ trong khoa học gắn với trách nhiệm giải trình; khuyến khích doanh nghiệp thành lập viện nghiên cứu và đầu tư cho KH&CN; trọng dụng cán bộ khoa học theo nhóm đối tượng tài năng.

Tiềm lực KH&CN quốc gia ngày càng phát triển. Trong thập niên 60, cả miền bắc chỉ có tám viện nghiên cứu, sáu trường đại học thì đến nay, cả nước đã có hơn 4.000 tổ chức KH&CN, ba khu công nghệ cao quốc gia, 13 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tám khu công nghệ thông tin tập trung và gần 67.000 cán bộ nghiên cứu. Hạ tầng nghiên cứu trong một số lĩnh vực trọng điểm như công nghệ sinh học, hóa dầu, vật liệu, năng lượng, tự động hóa, na-nô, công nghệ tính toán, y học được tăng cường.

Nguồn lực thông tin, nền tảng Tri thức Việt số hóa được đầu tư, kết nối và chia sẻ mở trong cộng đồng. Ðầu tư từ doanh nghiệp cho KH&CN gia tăng mạnh mẽ. Ðã hình thành các viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp theo mô hình tiên tiến thế giới ở cả khu vực nhà nước và tư nhân, điển hình như Viện V-KIST, các viện nghiên cứu của VinGroup về dữ liệu lớn, công nghệ cao. Thị trường công nghệ, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo phát triển sôi động, hệ thống sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng ngày càng hoàn thiện, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, khuyến khích sự ra đời của hàng nghìn doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng tăng trưởng.

Trình độ KH&CN của Việt Nam được cải thiện rõ rệt. Khoa học xã hội và nhân văn đã cung cấp các luận cứ sâu sắc cho việc hoạch định đường lối, chủ trương phát triển đất nước của Ðảng và Nhà nước, khẳng định lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, bảo tồn các giá trị và bản sắc văn hóa Việt Nam. Khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ đóng góp tích cực vào việc nâng cao năng lực nghiên cứu trong nước, thúc đẩy năng suất, chất lượng và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần tạo nên thế và lực mới cho đất nước.

Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam liên tục tăng cao, năm 2019 đạt thứ hạng tốt nhất từ trước tới nay, xếp thứ 42 trên 129 quốc gia, dẫn đầu nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp. Số lượng công bố quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam tăng trung bình 26%/năm, lĩnh vực toán học và vật lý luôn đứng ở tốp đầu các nước ASEAN. Việc ứng dụng công nghệ cao và phát triển sản phẩm theo chuỗi được đẩy mạnh trong các ngành nông nghiệp và công nghiệp. Nhân tố KH&CN đóng góp hơn 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, 38% trong sản xuất giống cây trồng, vật nuôi. Các nhà khoa học trong nước đã làm chủ công nghệ thiết kế, thi công các nhà máy thủy điện lớn, công trình ngầm, nhà cao tầng, cầu dây văng, đường cao tốc đạt chuẩn quốc tế; chế tạo thành công thiết bị cơ khí thủy công và nâng hạ siêu trường, siêu trọng; làm chủ các kỹ thuật tiên tiến trong y tế như ghép đa tạng, sản xuất vắc-xin.

Chặng đường phía trước và các giải pháp

Có thể nói, trong điều kiện một nước đang phát triển, nguồn lực có hạn, Việt Nam đã có những tiến bộ rất đáng khích lệ, từng bước rút ngắn cách biệt về năng lực khoa học và đổi mới sáng tạo so với khu vực và thế giới. Tuy nhiên, các khó khăn chúng ta phải đối mặt là rất lớn. Năng suất lao động của Việt Nam tuy có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, nhưng vẫn còn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực. Năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu. Tinh thần khoa học, văn hóa đổi mới sáng tạo chưa thấm sâu vào tư duy, nhận thức cộng đồng xã hội. KH&CN Việt Nam phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa thật sự trở thành động lực cho tăng trưởng kinh tế – xã hội.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra trên toàn cầu với các cơ hội và thách thức đan xen, đòi hỏi một nước đi sau như Việt Nam cần nhanh chóng đổi mới tư duy, hành động kịp thời, một mặt kiên trì các giải pháp tăng cường tiềm lực KH&CN trong dài hạn, mặt khác bằng mọi giá tìm cách đi riêng để phát triển bứt phá. Ðể đưa KH&CN và đổi mới sáng tạo thật sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững, trong thời gian tới, cần tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Trước hết, cần tiếp tục đổi mới hệ thống sáng tạo quốc gia theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh. Thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia để phát triển mạnh lực lượng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có tiềm năng tăng trưởng nhanh.

Kích cầu công nghệ và nhu cầu đổi mới sáng tạo từ khu vực doanh nghiệp đòi hỏi thực hiện đồng bộ các giải pháp về kinh tế, thương mại, đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh. Từ góc độ quản lý KH&CN, cần tăng cường năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp thông qua tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp đầu tư lập quỹ phát triển KH&CN, thành lập viện nghiên cứu, doanh nghiệp KH&CN, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; mở rộng hình thức tài trợ, cho vay, bảo lãnh vốn vay từ các quỹ nhà nước đối với các dự án đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Tăng cường hợp tác công tư trong triển khai các dự án công nghệ quy mô lớn và hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trước hết với các tập đoàn công nghệ công nghiệp lớn trong nước. Về lâu dài, chuyển dịch hoạt động nghiên cứu ứng dụng từ các viện nghiên cứu công lập về khu vực doanh nghiệp như thông lệ quốc tế.

Ðối với các trường đại học, nghiên cứu khoa học phải là nhiệm vụ bắt buộc. Ðưa nghiên cứu cơ bản về các trường đại học; quan tâm đầu tư kinh phí và cơ sở hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm, nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm xuất sắc trong các trường đại học; hình thành các đại học nghiên cứu mạnh ở Việt Nam. Ðối với các viện nghiên cứu, thực hiện trao quyền tự chủ tối đa gắn với trách nhiệm giải trình, chịu sự đánh giá độc lập về kết quả hoạt động và công khai kết quả đánh giá. Thúc đẩy gắn kết, hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với khu vực công nghiệp và doanh nghiệp để đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh.

Tiếp tục đổi mới hoạt động quản lý KH&CN theo hướng dỡ bỏ các rào cản, giải phóng tối đa tiềm năng sáng tạo, nới rộng quyền tự do học thuật đi đôi với đánh giá công khai, minh bạch kết quả hoạt động nghiên cứu. Xác định trúng và đúng tầm nhiệm vụ KH&CN, xuất phát từ thực tiễn và giải quyết được các yêu cầu bức thiết của thực tiễn phát triển đất nước, ngành, lĩnh vực và doanh nghiệp. Gây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học mạnh, kết hợp đồng thời biện pháp động viên, khuyến khích và đặt yêu cầu trở lại đối với nhà khoa học; đào tạo, trọng dụng người tài kết hợp với đòi hỏi về tính liêm chính và đạo đức trong nghiên cứu. Bảo đảm phương tiện và môi trường làm việc thuận lợi cho cán bộ khoa học. Ðầu tư có hiệu quả cho hạ tầng KH&CN, trang thiết bị nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nguồn lực thông tin và tài chính; tạo lập môi trường học thuật tiên tiến và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lành mạnh.

Ðẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu chung để tranh thủ nguồn lực và tri thức của các quốc gia tiên tiến, đồng thời từng bước nâng tầm năng lực và trình độ nghiên cứu trong nước để có thể tham gia hợp tác đối tác bình đẳng và cùng có lợi trong dài hạn. Hỗ trợ mạnh hoạt động giao lưu khoa học, trao đổi học thuật tầm khu vực và quốc tế. Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới đại diện KH&CN Việt Nam ở nước ngoài, nhất là tại các địa bàn trọng điểm. Thu hút, khai thác thế mạnh của đội ngũ các nhà khoa học tài năng là người Việt Nam ở nước ngoài.

Nhìn lại chặng đường lịch sử 60 năm, chúng ta trân trọng và biết ơn sự quan tâm chỉ đạo sâu sắc của Ðảng, Nhà nước và Chính phủ, các thế hệ tiền bối của Ủy ban Khoa học Nhà nước, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ KH&CN, các thế hệ cán bộ khoa học Việt Nam trong nước và ở nước ngoài, trong từng thời kỳ lịch sử, đã chung tay viết nên những trang vàng truyền thống của KH&CN Việt Nam, bằng cả máu xương và những hy sinh thầm lặng trên con đường sáng tạo, bằng trí tuệ và tấm lòng tận trung với đất nước, để đưa nền KH&CN nước nhà vượt qua muôn vàn chông gai, thử thách trong thời chiến và phát triển rực rỡ trong thời đại hòa bình và dựng xây đất nước.

Niềm vinh dự và tự hào đó sẽ tiếp thêm động lực và niềm tin cho lực lượng KH&CN nước nhà trong thời đại mới, quyết tâm đoàn kết và nỗ lực sáng tạo để nhân lên gấp bội tiềm năng và nguồn lực trí tuệ Việt Nam, đưa KH&CN phát triển lên một tầm cao mới, đóng góp ngày càng to lớn cho sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững đất nước, xứng đáng với kỳ vọng của Ðảng, Nhà nước và nhân dân.

CHU NGỌC ANH
Ủy viên T.Ư Ðảng, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ