Chui qua ba lỗ hổng, nông sản nhập khẩu biến thành nông sản Việt

Người viết: admin - Ngày viết: Friday, Nov 23, 2018 | 15:20 - Lượt xem: 52

Thời gian qua xuất hiện tình trạng một số nông sản, thủy sản không rõ xuất xứ được bày bán trên thị trường dưới tên gọi của sản phẩm cùng loại Việt Nam như: nho Ninh Thuận, khoai tây Đà Lạt, cá tầm Sa Pa…

Việc đội lốt hàng Việt Nam chủ yếu diễn ra dưới hai hình thức: hàng nhập khẩu được trộn cùng với nông sản Việt Nam bày bán ra thị trường; hàng nhập khẩu được quảng cáo là hàng Việt Nam. Bộ Công Thương cho rằng sở dĩ có tình trạng trên là do quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn tồn tại 3 lỗ hổng.

Một là quy định về nhãn hàng hóa không yêu cầu thương nhân phải ghi nhãn hàng hóa đối với nông sản và thủy sản bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Cụ thể, Nghị định 43/2017 quy định hàng hóa lưu thông tại Việt Nam, bao gồm hàng nhập khẩu, phải có nhãn hàng hóa, trong đó có nội dung bắt buộc là xuất xứ hàng hóa (Điều 1.1 và Điều 10.1). Tuy nhiên quy định này lại không áp dụng với hàng hóa là thực phẩm tươi sống, nông sản, thủy sản không có bao bì và bán trực tiếp cho người tiêu dùng (Điều 1.2.đ và Điều 1.2.e). Vì vậy, sau khi hoàn thành thủ tục nhập khẩu và đưa vào chợ dân sinh, người bán có thể bỏ bao bì và nhãn hàng hóa để bán trực tiếp cho người tiêu dùng.

Lỗ hổng thứ hai là các quy định pháp luật về truy xuất nguồn gốc chưa được áp dụng một cách toàn diện và triệt để đối với nông sản, thủy sản. Cụ thể, Nghị định 15/2018 có đưa ra các quy định về truy xuất nguồn gốc với thực phẩm nhưng quy định này chỉ áp dụng với sản phẩm “không đảm bảo an toàn”, tức là chỉ khi sản phẩm không đảm bảo an toàn hoặc cơ quan nhà nước có yêu cầu thì thương nhân mới phải thực hiện quy trình truy xuất nguồn gốc đối với thực phẩm (Điều 34, Điều 35).

Lỗ hổng thứ ba là pháp luật chưa có quy định về việc như thế nào thì một sản phẩm được xem là sản phẩm của Việt Nam. Theo Bộ Công Thương, pháp luật đã có các quy định chi tiết về cách xác định một sản phẩm được coi là có xuất xứ Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định này mới được áp dụng cho hàng xuất khẩu, không áp dụng đối với các loại hàng hóa lưu thông trên thị trường Việt Nam. Do vậy, trong nhiều trường hợp, các cơ quan chức năng không biết căn cứ vào đâu để xác định một sản phẩm có phải là “của Việt Nam” hay không. 

Do thương nhân có thể bán hàng mà không cần nhãn mác, không cần khai báo xuất xứ và cũng không phải truy xuất nguồn gốc nên các cơ quan chức năng hầu như không thể phát hiện và xử lý các trường hợp nông sản nước ngoài đội lốt nông sản Việt Nam một khi hàng đã vào đến chợ. Thậm chí, ngay cả khi có lí do để nghi ngờ thì cũng không có căn cứ pháp lý để xác định một sản phẩm nào đó “không phải là sản phẩm của Việt Nam”.

Xuất phát từ đây, báo cáo kết quả giám sát về việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 – 2016 của Đoàn giám sát Quốc hội cũng khẳng định: “Rau, quả, thịt, thủy sản tươi sống phần lớn chưa có nhãn mác, thiếu dấu hiệu nhận diện và thông tin về nguồn gốc xuất xứ. Do vậy, khi phát hiện mẫu vi phạm đã gặp rất nhiều khó khăn trong truy xuất, xác định nguyên nhân và xử lý vi phạm”.

Để khắc phục tình trạng nông sản nhập khẩu đội lốt hàng Việt nêu trên, Bộ Công Thương đã có văn bản đề nghị Văn phòng Chính phủ báo cáo Thủ tướng xem xét giao một số bộ cùng vào cuộc.