GLTT: Xã hội hóa đánh giá sự phù hợp thúc đẩy NSCL

Post by: admin - Post date: Tuesday, Dec 26, 2017 | 2:38 - View count: 967

Tổ chức đánh giá sự phù hợp (ĐGSPH) hiện nay được phát triển theo hướng xã hội hóa theo Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định 107/2016/NĐ-CP của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ ĐGSPH.

Tổng Biên tập Tạp chí Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng và Chất lượng Việt Nam online (VietQ.vn) Trần Văn Dư phát biểu khai mạc chương trình giao lưu trực tuyến

Đến nay, Bộ KH&CN đã cấp giấy chứng nhận (GCN) đăng ký hoạt động cho 111 tổ chức thử nghiệm, 36 tổ chức chứng nhận; 15 tổ chức giám định theo quy định tại Nghị định số 107/2016/NĐ-CP; 28 tổ chức thử nghiệm, 19 tổ chức chứng nhận theo quy định tại Thông tư số 08/2009/TT-BKHCN. Đã chỉ định 69 tổ chức đánh giá sự phù hợp để phục vụ quản lý nhà nước đối với sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ KH&CN.

Hoạt động ĐGSPH đã góp phần tích cực hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa đảm bảo an toàn, chất lượng, tuân thủ theo các quy định pháp luật hiện hành.

Năm 2017, Bộ KH&CN được Chính phủ đánh giá cao về những nỗ lực trong việc cắt giảm 50% danh mục nhóm hàng hóa 2, chuyển 91% mặt hàng từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giảm 96% mặt hàng phải kiểm tra khi thông quan, cắt giảm thời gian khi thông quan chỉ còn 1 ngày… Đặc biệt, việc đổi mới công tác quản lý trong lĩnh vực đánh giá sự phù hợp theo hướng xã hội hóa các hoạt động thử nghiệm, giám định, chứng nhận đã nhận được phản hồi tích cực từ cộng đồng doanh nghiệp (DN).

Nhằm tuyên truyền những kết quả đổi mới công tác quản lý trong lĩnh vực ĐGSPH theo hướng xã hội hóa và những thay đổi về các quy định quản lý chuyên ngành và những phương thức kiểm tra chuyên ngành sẽ được áp dụng của cơ quan quản lý nhà nước; những quy định về công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy và phương thức ĐGSPH với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo hướng thuận lợi hóa cho DN… giúp nâng cao khả năng cạnh tranh theo tinh thần Nghị quyết 19 của Chính phủ.

Chương trình giao lưu trực tuyến: “Hoạt động thử nghiệm, giám định, chứng nhận với năng suất chất lượng” diễn ra vào lúc 9h ngày 26/12/2017 với sự tham gia của các khách mời:

– TS Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

– Bà Nguyễn Minh Thảo – Phó trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh – CIEM

– Ông Nguyễn Hoài Nam – Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam – VASEP

 Ông Trần Quốc Dũng – Phó Giám đốc Trung tâm Chứng nhận phù hợp – QUACERT

–  Hoàng Thị Thu Huyền– Giám đốc thương hiệu Công ty TNHH Mỹ phẩm Huyền Phi

– Ông Nguyễn Khắc Kim – Chuyên gia đánh giá trưởng – Công ty TNHH T.Q.C.S.I Việt Nam

Nội dung buổi giao lưu:

Mai Vân Hà – maivanha89@gmail.com
Tôi xin hỏi TS. Linh, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình quốc gia nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa theo Quyết định số 712/QĐ-TTg với việc tạo dựng phong trào và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp. Vậy theo ông, quan điểm chủ đạo và mục tiêu chủ yếu của Chương trình là gì?
TS Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

 TS Nguyễn Hoàng Linh cho biết, Chương trình 712 góp phần tạo nền tảng, hỗ trợ cho nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp.

Quan điểm chủ đạo của Chương trình quốc gia NSCL là: “Nhà nước tạo nền tảng, hỗ trợ cho việc nâng cao năng suất và chất lượng. Doanh nghiệp đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa”.

Mục tiêu chủ yếu của chương trình quốc gia NSCL: Tạo bước chuyển biến rõ rệt về năng suất và chất lượng của các sản phẩm, hàng hóa chủ lực, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, thông qua xây dựng và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng; phát triển nguồn lực cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Chương trình là tập hợp các nội dung, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ về cơ chế chính sách, tổ chức, nhân lực, đặc biệt là các yếu tố khoa học và công nghệ tác động trực tiếp vào doanh nghiệp nhằm hỗ trợ và tạo lập môi trường pháp lý, điều kiện thuận lợi cho hoạt động nâng cao năng suất và chất lượng của doanh nghiệp.

Chương trình gồm 09 dự án, trong đó Bộ Khoa học và Công nghệ và 06 Bộ quản lý ngành chủ trì 08 dự án; Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì dự án 9 “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương”.

Cùng với việc thực hiện lồng ghép các nhiệm vụ của Chương trình quốc gia NSCL với các chương trình, đề án khác của Chính phủ, Bộ, ngành, địa phương sẽ góp phần hoàn thành mục tiêu tăng tỷ trọng đóng góp của năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) trong tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước GDP lên 30% vào năm 2015 và 35% vào năm 2020.

Thêm vào đó, theo thông tin từ đồng chí Nguyễn Chí Dũng – Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư, rất đáng mừng là năm 2017 đóng góp của TFP trong tăng trưởng GDP của Việt Nam ước đạt 44,13%, cao hơn so với năm 2016 (40,68%) và cao hơn nhiều so với bình quân giai đoạn 2011-2015 (33,58) 

Thành Việt – vietthanhphi@gmail.com
Chúng tôi cũng muốn biết là hiện nay quy trình tiếp nhận, rồi thử nghiệm, chứng nhận hàng hóa được thực hiện như thế nào, thưa ông?
Ông Trần Quốc Dũng – Phó Giám đốc Trung tâm Chứng nhận phù hợp – QUACERT

Trước hết, doanh nghiệp đăng ký đánh giá chứng nhận cho sản phẩm của mình. Tổ chức chứng nhận sẽ xem xét bố trí các hoạt động đánh giá thử nghiệm thích hợp. Tuỳ vào yêu cầu của sản phẩm hàng hoá, quý vị có thể lựa chọn chứng nhận cho lô sản phẩm hay chứng nhận cho quy trình sản xuất kết hợp với thử nghiệm sản phẩm.

Trong trường hợp chứng nhận cho lô, tổ chức chứng nhận sẽ tiến hành xem xét đánh giá lô sản phẩm và lấy mẫu gửi thử nghiệm. Dựa trên kết quả thử nghiệm, tổ chức chứng nhận sẽ cấp giấy chứng nhận cho lô sản phẩm. Trong trường hợp chứng nhận cho quy trình sản xuất, tổ chức chứng nhận sẽ đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng kết hợp với lấy mẫu thử nghiệm điển hình.

Căn cứ trên kết quả đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng và kết quả thử nghiệm tổ chức sẽ cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm của quý vị. Trong trường hợp này giấy chứng nhận sẽ có hiệu lực trong vòng 3 năm, với điều kiện được đánh giá giám sát định kỳ. 

Xuân Đức – xuaductran79@gmail.com
Theo quan điểm của bà thì làm thế nào để hoạt động ĐGSPH, trong đó có các tổ chức thử nghiệm/phòng thử nghiệm ở nước ta hoạt động hiệu quả hơn, đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện nay?
Bà Nguyễn Minh Thảo – Phó trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh – CIEM

Để hoạt động của các đơn vị ĐGSPH hoạt động hiệu quả hơn, đáp ứng được yêu cầu của xã hội thì thứ nhất cần thực hiện các hoạt động xã hội hóa nhiều hơn để tạo áp lực cạnh tranh giúp các đơn vị ĐGSPH thay đổi, sáng tạo, đa dạng hóa dịch vụ và nâng cao chất lượng.

Thứ hai, hoạt động ĐGSPH đòi hỏi phải có nguồn đầu tư cho máy móc, thiết bị vì vậy cần có cơ chế tạo thuận lợi để các đơn vị ĐGSPH tiếp cận với các nguồn vốn vay.

Thứ ba, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện các hoạt động ĐGSPH.

Thứ tư, các đơn vị ĐGSPH cần hiểu rõ các tiêu chuẩn quốc tế để lựa chọn kế hoạch đầu tư phù hợp.

Phạm Minh Tuyến – tuyenphamxd2005@gmail.com

Vấn đề an toàn thực phẩm hiện nay đang là chủ đề “nóng”, gây bức xúc cho người tiêu dùng, đặc biệt là dịp Tết Nguyên đán sắp đến, nhiều sản phẩm thực phẩm không được thử nghiệm, đánh giá chất lượng nhưng vẫn được bày bán. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào? Theo ông, các cơ quan quản lý nhà nước phải làm gì để hạn chế tình trạng này?
Ông Nguyễn Hoài Nam – Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam – VASEP

Quản lý ATTP không chỉ dựa trên nguyên tắc đánh giá rủi ro, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng phù hợp mà còn tập trung vào điều kiện sản xuất của DN. 

Trên cơ sở đó, khung pháp lý quản lý ATTP ngày một hoàn thiện. Từ nguyên tắc đánh giá rủi ro, mức độ và phương thức áp dụng sẽ khác nhau với các nhóm sản phẩm có nguy cơ khác nhau.

Điều này cho thấy, các nhóm sản phẩm khác nhau sẽ cần phải áp dụng các biện pháp khác nhau. Với trường hợp mà thực phẩm không được sản xuất và phân phối một cách phù hợp về quản lý ATTP, trong đó có thể sẽ không bao gồm đánh giá chất lượng, nếu sai với các quy định hiện hành thì đây là một vấn đề vi phạm và gây bức xúc cho người tiêu dùng.

Theo tôi, các cơ quan Nhà nước liên quan ngoài việc hoàn thiện các cơ chế quản lý phù hợp thì cũng cần tăng cường công tác thẩm tra để hạn chế tình trạng này. Việc xử lý vi phạm đối với những trường hợp sai phạm cũng cần công khai, minh bạch để tăng cường tính tuyên truyền hiệu quả.

Mạnh Hoàng – nguyanhoangmanh2003@gmail.com
Theo tôi được biết thì có rất là nhiều sản phẩm của các tập đoàn nước ngoài nhẩu khẩu vào Việt Nam thì chất lượng những sản phẩm đó được những cơ quan nào đánh giá. Làm thế nào để người tiêu dùng có thể biết được chất lượng hàng hóa nhập khẩu?
Ông Trần Quốc Dũng – Phó Giám đốc Trung tâm Chứng nhận phù hợp – QUACERT

Hiện nay, Việt Nam đã tham gia WTO nên hàng hoá nhập khẩu cũng được đối xử như hàng hoá sản xuất trong nước. Theo đó, các sản phẩm hàng hoá đều phải tuân thủ theo luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá. Nếu là hàng hoá thông thường thì doanh nghiệp phải công bố tiêu chuẩn áp dụng cho hàng hoá đó.

Nếu là hàng hoá thuộc nhóm 2 (hàng hoá có khả năng gây mất an toàn) thì doanh nghiệp phải công bố hàng hoá phù hợp với quy chuẩn kĩ thuật quốc gia.

Để chứng minh hàng hoá của mình đáp ứng các tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kĩ thuật, các doanh nghiệp (cả trong nước và doanh nghiệp nước ngoài) sẽ yêu cầu các tổ chức ĐGSPH đã đăng kí hoạt động đánh giá và chứng nhận cho sản phẩm của mình. Khi đó, hàng hoá có thể được gắn các dấu chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy.

Nếu hàng hoá thuộc đối tượng bắt buộc phải đánh giá sự phù hợp thì khi hàng hoá được nhập khẩu vào Việt Nam cơ quan hải quan sẽ yêu cầu háng hoá đó phải được đánh giá sự phù hợp bởi các tổ chức ĐGSPH đã được chỉ định trước khi cho thông quan.

Trần Việt Dũng – dung.tran83@gmail.com
Doanh nghiệp tôi muốn sử dụng dịch vụ chứng nhận ISO 14001, tuy nhiên qua tham khảo còn thấy chênh lệch nhiều mức phí khác nhau. Xin hỏi, Căn cứ nào để có mức giá hợp lý mà vẫn đảm bảo được yêu cầu chứng nhận?
Ông Nguyễn Khắc Kim – Chuyên gia đánh giá Công ty TNHH T.Q.C.S.I Việt Nam

Về nguyên tắc, phí chứng nhận được các tổ chức chứng nhận xác định trên các cơ sở là phí công nhận cho chương trình công nhận mà khách hàng đăng ký, phí đăng ký và quản lý, phí đánh giá và các chi phí hậu cần phát sinh cho việc di chuyển và lưu trú.

Trong các thành phần đó phí đánh giá, tính trên cơ sở số ngày công (ngày x người) đánh giá, thường chiếm tỉ trọng chính.Các tổ chức chứng nhận theo đuổi công nhận bởi các tố chức công nhận là thành viên của Diễn đàn công nhân quốc tế (IAF) đều phải tuân thủ các quy định chung về cách tính số lượng ngày công đánh giá (IAF MD 5: 2013), và vì vậy nên có giá trị được xác định như nhau bởi các tổ chức chứng nhận nếu được cung cấp thông tin giống nhau về hệ thống được đánh giá.

Khi yêu cầu đề xuất dịch vụ, các tổ chức yêu cầu chứng nhận nên xác nhận rõ các thông tin về chương trình công nhận, số ngày công của chuyên gia đánh giá tại cơ sở của mình bao gồm hay không bao gồm các chi phí hậu cần cho hoạt động đánh giá, yêu cầu về ngôn ngữ sử dụng trong đánh giá, … để có các thông tin chính xác và đáng tin cậy cho việc đánh giá và ra quyết định lựa chọn dịch vụ chứng nhận.

Bên cạnh đó, tổ chức cũng nên – dựa trên kết quả đánh giá nội bộ và xem xét hệ thống quản lý của mình – đảm bảo rằng hệ thống quản lý của mình thực sự hiệu lực và phù hợp với yêu cầu tiêu chuẩn đăng ký chứng nhận trước khi yêu cầu đánh giá để tránh phát sinh các chi phí cho việc đánh giá lại hoặc xác nhận hành động khắc phục tại cơ sở của mình cho các điểm không phù hợp nặng.

Vân Anh – vananhngo89@gmail.com
Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, đặc biệt là hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do (FTA) sẽ được thực thi, chất lượng SPHH là một trong những vấn đề sống còn của doanh nghiệp Việt Nam. Vậy theo quan điểm của bà thì các Bộ ngành và doanh nghiệp phải thực hiện những giải pháp nào?
Bà Nguyễn Minh Thảo – Phó trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh – CIEM

Về phía bộ ngành và đơn vị ĐGSPH thì như trên đã phân tích. 

Về phía DN, để đáp ứng yêu cầu của các thị trường về chất lượng SPHH, DN nên lựa chọn các đơn vị ĐGSPH uy tín và đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế.

Nguyễn Quốc Quân – quanqn77@gmail.com
Như ông đã đề cập, hoạt động ĐGSPH đã được xã hội hóa theo chủ trương của nhà nước, vậy thì trong thời gian tới cơ quan quản lý phải làm gì để hoạt động ĐGSPH thực sự phục vụ cộng đồng doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước?
TS Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

– Thứ nhất, các cơ quan quản lý có thẩm quyền cần triển khai thực hiện việc xã hội hóa theo đúng tinh thần của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP và Nghị định số 107/2016/NĐ-CP.

– Thứ hai, cần có các biện pháp, chính sách để hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức ĐGSPH tăng cường đầu tư, nâng cao năng lực ĐGSPH để đáp ứng điều kiện quy định, phù hợp thông lệ quốc tế.

– Thứ ba, cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với các tổ chức ĐGSPH không đáp ứng yêu cầu hoặc thực hiện quá trình ĐGSPH không đúng quy định để bảo đảm việc tuân thủ quy định và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các tổ chức đáp ứng, tuân thủ quy định.

– Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động thông tin tuyên truyền, tuân thủ quy định của pháp luật về hoạt động đánh giá sự phù hợp.

Nguyễn Ngọc Thảo – thaonguyen2005xd@gmail.com
Chi phí đánh giá, kiểm nghiệm đang là vấn đề được doanh nghiệp kêu “khó”, đặc biệt là chi phí thử nghiệm sản phẩm, điều này khiến người tiêu dùng sẽ phải gánh thêm về giá. Ông nhận định như thế nào về vấn đề này?
Ông Nguyễn Hoài Nam – Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam – VASEP

Tôi đồng ý hoàn toàn với đánh giá này, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập, với việc gia tăng nhiều lần các yêu cầu phải kiểm nghiệm hoặc đánh giá. Đây là một danh mục chi phí lớn của bất kỳ DN nào làm thực phẩm theo đúng các quy định hiện nay. Điều này sẽ khiến cho giá thành sản xuất/đơn vị sản phẩm sẽ tăng hơn. Theo logic đó, người tiêu dùng sẽ là người cuối cùng phải chi trả cho các sản phẩm mà mình mua. 

Theo tôi, việc duy trì hệ thống quản lý chất lượng kèm theo các hoạt động về đánh giá, kiểm nghiệm là điều kiện cần đối với các DN sản xuất hoặc phân phối sản phẩm. Chi phí đánh giá, kiểm nghiệm là danh mục cần thiết mà tôi thấy các DN đều đặc biệt ưu tiên. Tuy nhiên, chi phí đến mức nào và phù hợp hay không, tương xứng hay không mới là vấn đề Dn đặc biệt quan tâm.

Đặng Dung – dangdung@gmail.com
Sau thời gian đi vào hoạt động Mỹ phẩm Huyền Phi đã nhận được những phản hồi như thế nào về chất lượng của các sản phẩm làm đẹp?
Bà Hoàng Thị Thu Huyền- Giám đốc thương hiệu Công ty TNHH Mỹ phẩm Huyền Phi

Như tôi đã chia sẻ, ban lãnh đạo công ty luôn coi trọng những ý kiến phản hồi của khách hàng và khách hàng luôn là số một nên mỗi khi nhận được các phản hồi chúng tôi luôn ghi nhận hết sức rõ ràng và có câu trả lời thích đáng cho khách hàng

Trong suốt thời gian vừa qua chúng tôi cũng nhận được rất nhiều phản hồi tích cực của khách hàng về chất lượng sản phẩm mỹ phẩm của Huyền Phi. Nhiều khách hàng cảm ơn vì họ có được một sự thay đổi về nhan sắc nhờ những sản phẩm an toàn.  Bên cạnh đó cũng có một vài ý kiến phản hồi muốn chúng tôi cải thiện đôi chút về sản phẩm đề phù hợp hơn với nhiều lứa tuổi, làn da.

Cùng với đó có những khách hàng do chưa lựa chọn đúng sản phẩm phù hợp với làn da nên đã không có nhiều thay đổi cho da của mình khi sử dụng. Tuy nhiên, sau khi đó nhân viên tư vấn chăm sóc khách hàng của Huyền Phi đã tư vấn và giúp đỡ khách hàng lựa chọn lại một loại sản phẩm khách phù hợp hơn với làn da của mình.

Người tiêu dùng có đặt ra một câu hỏi, với những sản phẩm đa dạng và chăm sóc cho nhiều độ tuổi khác nhau, Mỹ phẩm Huyền Phi đã thực hiện công tác giám sát chất lượng và thử nghiệm, giám định chất lượng của các sản phẩm như thế nào?

Vâng đúng là Huyền phi có rất nhiều dòng sản phẩm khác nhau phục vụ cho nhiều loại da, nhiều độ tuổi khách nhau. Hiện nay chúng tôi có 14 sản phẩm đang bán ra thị trường và đều có đầy đủ hồ sơ công bố của Sở Y tế và các kết quả thử nghiệm tại các tổ chức uy tín như Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng. Sắp tới chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển mở rộng thêm các dòng sản phẩm mới nhằm phục vụ tốt hơn nữa nhu cầu của khách hàng.

Trở lại với câu hỏi về công tác giám sát chất lượng và thử nghiệm giám định chất lượng cho các sản phẩm, chúng tôi luôn có một bộ phận kiểm tra chất lượng cho mỗi lô hàng trước khi đưa vào dây truyền đóng hộp, dán nhãn và đưa ra thị trường. Đội ngũ này làm việc trong một phòng vô trùng hiện đại và cũng được trang bị các hệ thống máy móc hiện đại để test các chỉ số an toán cho da đối với mỗi lô sản phẩm.

Bên cạnh đó chúng tôi cũng thường xuyên gửi mẫu thử nghiệm kiểm định tại các tổ chức thử nghiệm giám định chất lượng hàng đầu tại Việt Nam và cho công bố rộng rãi các kết quả này, để khách hàng thấy rõ những gì mà Huyền Phi luôn cố gắng để phục vụ khách hàng một cách tốt nhất.

Lê Minh Phong – phong.lebn@gmail.com
Xin cho biết có hay không các tổ chức chứng nhận sử dụng chung chuyên gia đánh giá trong khi quy định của pháp luật không cho phép điều này?
Ông Nguyễn Khắc Kim – Chuyên gia đánh giá Công ty TNHH T.Q.C.S.I Việt Nam

Chúng tôi tin tưởng rằng chất lượng của lực lượng chuyên gia đánh giá là yếu tố cốt lõi của dịch vụ chứng nhận sự phù hợp và vì vậy T.Q.C.S.I Vietnam luôn nỗ lực phát triển đội ngũ các chuyên gia đánh giá cho riêng mình. Có như vậy, mới hình thành được các nhân sự đánh giá hiểu rõ và tuân thủ các chuẩn mực trong thực hiện đánh giá cũng như theo đuổi các nguyên tắc và giá trị dịch vụ chứng nhận của T.Q.C.S.I Vietnam.

Trong quá trình cung cấp dịch vụ, T.Q.C.S.I Vietnam không tham gia đồng chứng nhận và cũng không tiếp cận được với các hoạt động hoặc hồ sơ đánh giá của các tổ chức chứng nhận khác nên không thực sự xác nhận được tình trạng có hay không việc sử dụng chung chuyên gia đánh giá.

Tuy nhiên, chúng tôi hiểu rằng với các tổ chức chứng nhận mới hoạt động thì việc phát triển và sở hữu một đội ngũ chuyên gia đánh giá riêng luôn sẵn sàng cho các phạm vi đánh giá chứng nhận khác nhau là một thách thức đáng kể. Đối với việc sử dụng các chuyên gia đánh giá bên ngoài (thầu phụ) hoặc bán thời gian luôn có rủi ro về vị phạm quy định không dùng chung chuyên gia đánh giá, đặc biệt trong điều kiện chưa có một cơ sở dữ liệu đáng tin cậy để tra cứu tình trạng đăng ký chuyên gia đánh giá của các tổ chức chứng nhận.

Hiện nay, có thể nói chuyên gia đánh giá cũng là người lao động, và luật pháp cho phép họ co thể làm việc với nhiều người sử dụng lao động. Do vậy, các quy định hiện hành về việc dung chung chuyên gia đánh giá chỉ áp dụng đối với các chuyên gia làm việc toàn thời gian. Với các chuyên gia bên ngoài, hiện chưa có các quy định cụ thể về vấn đề sử dụng lao động này.

T.Q.C.S.I Vietnam cho mong muốn hình thành một cơ chế cập nhật và chia sẻ một cơ sở dữ liệu về tình trạng đăng ký và phê duyệt chuyên gia đánh giá của các tổ chức chứng nhận để các tổ chức chứng nhận, tổ chức yêu cầu chứng nhận và bên liên quan có thể tra cứu khi cần. Nếu có đi vào hoạt động, cơ chế này chắc chắn sẽ góp phần đáng kể giảm thiểu rủi ro về vi phạm quy định này.

Quỳnh Vân – quynhvan129@gmail.com
Hội nhập như vậy thì doanh nghiệp Việt Nam có gặp những khó khăn, vướng mắc gì, thưa bà?
Bà Nguyễn Minh Thảo – Phó trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh – CIEM

Việc hội nhập như vậy thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp một số khó khăn như: Do trong nước chưa nhiều đơn vị ĐGSPH đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế nên các DN thường phải gửi SPHH ra nước ngoài để thử nghiệm, kiểm định, giám định, dẫn tới chi phí cao hoặc thời gian kéo dài hơn. 

Duyên Mai – maiduyen12@gmail.com
Việc thực hiện theo hướng xã hội hóa hoạt động ĐGSPH được đánh giá là mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, tuy nhiên việc nở rộ hoạt động này cũng khiến cho hoạt động này nảy sinh nhiều vấn đề và có hệ lụy tiêu cực. Ông có ý kiến như thế nào về vấn đề này?
Ông Trần Quốc Dũng – Phó Giám đốc Trung tâm Chứng nhận phù hợp – QUACERT

Ông Trần Quốc Dũng cho rằng, hoạt động ĐGSPH đã được xã hội hoá (XHH) từ lâu, đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội.

Xã hội hoá là một xu thế. Tuy nhiên, nhà nước cần có các biện pháp quản lý thích hợp. Quy định hiện nay yêu cầu các tổ chức đánh giá sự phù hợp phải đáp ứng các điều kiện năng lực theo các tiêu chuẩn quốc gia (tương đương với tiêu chuẩn quốc tế) và cho phép cơ quan quản lý nhà nước hậu kiểm.

Do đó, để đảm bảo các tổ chức hoạt động đúng quy định, tạo sự công bằng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tăng cường công tác thanh tra để đảm bảo các tổ chức đánh giá phù hợp đăng ký hoạt động, sau đó kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đã đăng ký.

Hoàng Linh – hoanglinht195@gmail.com
Trong thực tế cũng đã có tình trạng là cùng một mẫu phân tích nhưng mỗi nơi thử nghiệm lại cho ra một kết quả khác nhau dẫn đến kết quả chứng nhận, giám định khác nhau. Ông có ý kiến nhận định gì về vấn đề này? Theo quan điểm của ông thì cần phải làm gì để cải thiện tình trạng này?
Ông Nguyễn Hoài Nam – Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam – VASEP

Hiện tượng này trong thực tế chúng tôi cũng có nghe một số lần, và rõ ràng việc này cần phải hạn chế và loại bỏ. Dù bản chất của công việc thử nghiệm vẫn có sự sai số bởi những điều kiện khách quan và điều kiện thiết bị nhưng kết quả chúng tôi cũng mong muốn nó nằm trong ngưỡng chấp nhận được. Việc này cũng không phải chỉ có ở riêng Việt Nam mà chúng tôi cũng thấy rằng các quốc gia khác hoặc so sánh giữa các kết quả kiểm tra giữa các quốc gia với nhau.

Để cải thiện tình trạng này theo tôi cần có ít nhất 2 việc phải làm:

Thứ nhất, công tác đánh giá để chỉ định phòng kiểm nghiệm cần làm một cách chặt chẽ và thương xuyên hơnđể đảm bảo các phòng kiểm nghiệm này luôn duy trì được chất lượng dịch vụ của mình.

Thứ hai, cần có một cơ chế để đảm bảo các phòng thử nghiệm, kiểm nghiệm, công khai và minh bạch về năng lực của mình nhằm giúp cho người dân và doanh nghiệp nắm được danh mục chỉ tiêu mà phòng kiểm nghiệm được chỉ định, được công nhận. Tránh trường hợp chỉ được công nhận một số chỉ tiêu nhưng lại không rõ ràng trong các thông điệp quảng bá khiến cho người dân và doanh nghiệp nghĩ rằng phòng kiểm nghiệm làm được nhiều các chỉ tiêu khác nữa ngoài số chỉ tiêu đã được công nhận.

Phượng Hoàng – hoangphuong@gmail.com
Hiện nay trong quá trình xã hội hóa các dịch vụ KH&CN thì bất cập, hạn chế lớn nhất là vấn đề kiểm soát chất lượng dịch vụ, nhất là các dịch vụ được cung ứng bởi khối tư nhân. Cụ thể là: phí dịch vụ tùy tiện, chất lượng dịch vụ không tương xứng, thực hiện dịch vụ không đúng quy đinh… Ông có ý kiến như thế nào về vấn đề này?
TS Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Vừa qua, Bộ KH&CN đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2017/NĐ-CP của Chính phủ về “Quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng hàng hoá”, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/12/2017.

Trong đó, quy định cụ thể hành vi vi phạm và các mức xử lý vi phạm đối với các tổ chức ĐGSPH không đáp ứng yêu cầu. Do đó, cơ quan quản lý có thẩm quyền cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm của các tổ chức ĐGSPH làm ảnh hưởng tới tính khách quan, tính minh bạch, sự sai lệch về kết quả thử nghiệm, chứng nhận ảnh hưởng tới doanh nghiệp và người tiêu dùng. 

Đặng Viết Trung – trungdangviet555@gmail.com
Thực tế mỹ phẩm ngoại vẫn được ưa chuộng hơn hàng trong nước, vậy yếu tố cạnh tranh với hàng nhập khẩu của Công ty Huyền Phi là gì?
Bà Hoàng Thị Thu Huyền- Giám đốc thương hiệu Công ty TNHH Mỹ phẩm Huyền Phi

Thực tế, hiện nay, trên thị trường Việt Nam, mỹ phẩm ngoại nhập vẫn đang được người tiêu dùng ưa chuộng hơn mỹ phẩm nội địa do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất. Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân của tôi, trên nhiều góc độ, mỹ phẩm Việt Nam vẫn có những ưu thế nhất định so với hàng ngoại nhập.

Thứ nhất, mỹ phẩm Việt không chịu những mức chi phí như thuế nhập khẩu, các chi phí do đường vận chuyển cộng vào nên giá thành sản phẩm không bị độn lên nên người tiêu dùng Việt có thể sở hữu những sản phẩm tốt với giá cả phải chăng. 

Thứ hai, tình trạng làm giả làm nhái các sản phẩm ngoại nhập khá phổ biến và khó kiểm soát nên rất người tiêu dùng dễ bị lâm vào ma trận hàng giả hàng kém chất lượng. 

Thứ ba, các sản phẩm mỹ phẩm sản xuất tại Việt Nam được bảo hộ bởi hệ thống tiêu chuẩn, cơ chế pháp luật chặt chẽ do đó đảm bảo cho người tiêu dùng trong nước dễ dàng kiểm soát được nguồn gốc, chất lượng của các sản phẩm phẩn được sản xuất trong nước. Điều này đóng vai trò vô cùng quan trọng để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.

Chính vì vậy, nếu các doanh nghiệp Việt Nam biết tận dụng các lợi thế trên chắc chắn sẽ có thể vững vàng trước làn sóng hội nhập.

Nguyễn Hùng Cường – cuong.nguyen@gmail.com
Từ thực tế hoạt động trong lĩnh vực đánh giá sự phù hợp, theo ông có những vấn đề gì bất cập cần cải thiện để hỗ trợ tốt nhất cho doanh nghiệp trong việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng cũng như nâng cao chất lượng hàng hóa, đảm bảo an toàn?
Ông Nguyễn Khắc Kim – Chuyên gia đánh giá Công ty TNHH T.Q.C.S.I Việt Nam

 

Tăng cường quản lý nhà nước và tiếp tục lành mạnh hóa hoạt động chứng nhận để đảm bảo các hoạt động đánh giá và chứng nhận được thực hiện đúng theo các chuẩn mực quốc tế. Với vai trò diễn giải yêu cầu của tiêu chuẩn vào thực tế và ra phán định về sự phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn, hoạt động chứng nhận tốt sẽ có đóng góp đáng kể vào việc hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng.

Tăng cường truyền thông về hoạt động chứng nhận sự phù hợp, đặc biệt là cơ chế Chứng nhận – Công nhận  – Thừa nhận. Nâng cao khả năng tiếp cận của doanh nghiệp với các thông tin về các tổ chức chứng nhận và chuyên gia đánh giá.

Phát triển và ban hành kịp thời các tiêu chuẩn Việt Nam liên quan trong lĩnh vực hệ thống quản lý chất lượng, bao gồm cả các tiêu chuẩn riêng cho các ngành công nghiệp để tăng cường khả năng tiếp cận của các tổ chức và cá nhân với những tiêu chuẩn này.

Hỗ trợ đào tạo và phát triển nhân sự quản lý trong doanh nghiệp về quản lý chất lượng nói chung và hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001 nói riêng. Xem xét sử dụng các nguồn ngân sách dự án để phát triển các chương trình đào tạo trực tuyến và cung cấp khả năng truy cập miễn phí đến các tổ chức và cá nhân.

Huy động các nguồn lực từ ngân sách và xã hội hóa để phát triển và chia sẻ các tài liệu, thông tin mang tính hướng dẫn triển khai các thực hành tốt trong xây dựng, áp dụng và cải tiến hệ thống quản lý chất lượng.

Khuyến khích và thúc đẩy việc tích hợp hệ thống quản lý chất lượng với các công cụ, kỹ thuật và thực hành tốt về cải tiến năng suất và chất lượng trong các tổ chức áp dụng hệ thống quản lý chất lượng.

MInh Châm – minhchamnguyen1990@gmail.com
Thưa bà, có một thực tế hàng hóa của Việt Nam xuất đi các nước nhưng lại bị trả về do không đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chí của nước nhập khẩu. Thưa bà phải chăng các hoạt động ĐGSPH, trong đó có hoạt động thử nghiệm của chúng ta chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của quốc tế?
Bà Nguyễn Minh Thảo – Phó trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh – CIEM

Việc hàng hóa của doanh nghiệp xuất đi các nước bị trả về do không đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chí của nước nhập khẩu trước hết là do lỗi của doanh nghiệp. Có thể do doanh nghiệp không nắm rõ các yêu cầu của nước nhập khẩu.

Năng lực của các đơn vị ĐGSPH cũng như chất lượng hoạt động thử nghiệm chưa đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế sẽ làm hạn chế cơ hội cung cấp dịch vụ của các đơn vị này nhưng không phải là nguyên nhân dẫn tới hàng hóa của DN bị trả lại. Có thể cũng có trường hợp kết quả thử nghiệm không đúng với kết quả thử nghiệm lại của các nước nhập khẩu nhưng trường hợp này không nhiều.

Lê Hải Yên – yenyb1983@gmail.com
Vướng mắc chủ yếu về công tác kiểm nghiệm, kiểm định và đánh gía sự phù hợp của các doanh nghiệp hội viên VASEP hiện nay là gì? Ông có thể chia sẻ với các độc giả được không?
Ông Nguyễn Hoài Nam – Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam – VASEP

Thủy sản là một mặt hàng thực phẩm đặc biệt. Hơn 80% hàng thủy sản Việt Nam dùng cho xuất khẩu, việc hội nhập của ngành đã có từ 20 năm qua. Các yêu cầu về kiểm nghiệm, chứng nhận từ các thị trường là rất đa dạng và nghiêm ngặt. Ngoài các yêu cầu pháp lý của các quốc gia nhập khẩu thì còn các yêu cầu đa dạng hơn từ nhà nhập khẩu và bán lẻ sản phẩm. Luật ATTP 2010 của Việt Nam đã tạo ra một hành lang pháp lý gắn các trách nhiệm có điều kiện của DN và những người cung cấp thủy sản.

Có thể thấy, có 2 vướng mắc chủ yếu về vấn đề này đối với các DN thủy sản. 

Thứ nhất, việc xã hội hóa và chỉ định phòng kiểm nghiệm là một ưu việt để DN có thể lựa chọn, tuy nhiên, trong các trường hợp cần các giấy chứng nhận của cơ quan quản lý Nhà nước (dùng cho xuất khẩu hoặc tiêu thụ nội địa) thì các phòng kiểm nghiệm tư nhân (đã được công nhận, chỉ định) chưa được tham gia làm các dịch vụ kiểm nghiệm cho DN. Các DN thủy sản mong muốn được sử dụng các dịch vụ kiểm nghiệm phù hợp từ tất cả các phòng kiểm nghiệm đã được công nhận chỉ định bao gồm cả thuộc Nhà nước hay thuộc tư nhân để đúng nghĩa với vấn đề xã hội hóa.

Thứ hai, đơn giá các dịch vụ kiểm nghiệm trong một số trường hợp với một số các chỉ tiêu cụ thể còn chưa mang tính cạnh tranh, đặc biệt, lại là từ dịch vụ từ các phòng kiểm nghiệm thuộc hệ thống của Nhà nước. Trong bối cảnh xã hội hóa và hỗ trợ giảm phí cho DN theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các DN mong muốn có được sự công bằng và hưởng lợi nhiều hơn từ đơn giá dịch vụ của các phòng kiểm nghiệm thuộc hệ thống Nhà nước nhất là với các trường hợp “bắt buộc” phải kiểm nghiệm tại các phòng kiểm nghiệm này để có được giấy chứng nhận của cơ quan Nhà nước.

Nguyễn Hoàng Nam – namhnvnpt@gmail.com
Như ông đã đề cập, hoạt động Đánh giá sự phù hợp (ĐGSPH) đã được xã hội hóa, vậy thì tổ chức ĐGSPH phải đáp ứng điều kiện gì để được tham gia hoạt động ĐGSPH?
TS Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Theo quy định tại Nghị định số 107/2016/NĐ-CP, điều kiện đối với các tổ chức ĐGSPH như sau:

1. Đối với tổ chức thử nghiệm

– Là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật.

– Có hệ thống quản lý và năng lực hoạt động đáp ứng các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2007 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với thử nghiệm chuyên ngành.

– Có ít nhất 04 thử nghiệm viên chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn), được đào tạo về tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2007 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với thử nghiệm chuyên ngành.

– Có máy móc, thiết bị, dụng cụ thử nghiệm, đo lường phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với lĩnh vực hoạt động thử nghiệm tương ứng.

2. Đối với tổ chức kiểm định

– Là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật.

– Có hệ thống quản lý và năng lực hoạt động đáp ứng các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 hoặc các tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với kiểm định chuyên ngành.

– Có ít nhất 04 kiểm định viên chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn), đáp ứng yêu cầu chuyên môn đối với lĩnh vực kiểm định tương ứng, được đào tạo về tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008.

– Có máy móc, thiết bị, dụng cụ theo yêu cầu tại quy trình kiểm định.

3. Đối với tổ chức giám định

– Là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật.

– Có hệ thống quản lý và năng lực hoạt động đáp ứng các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn ISO/IEC 17020:2012 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với giám định chuyên ngành.

– Có ít nhất 04 giám định viên chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn), đáp ứng điều kiện:

a) Có trình độ tốt nghiệp cao đẳng trở lên và chuyên môn phù hợp đối với sản phẩm, hàng hóa giám định;

b) Được đào tạo về tiêu chuẩn TCVN ISO/IEC 17020:2012 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với giám định chuyên ngành;

c) Có kinh nghiệm làm việc 03 năm trở lên (kể từ thời điểm tốt nghiệp cao đẳng hoặc đại học), trong đó có 02 năm làm công tác giám định chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

4. Đối với tổ chức chứng nhận

– Là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật.

– Có hệ thống quản lý và năng lực hoạt động đáp ứng các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế và hướng dẫn quốc tế cho mỗi loại hình tương ứng sau đây:

a) Tiêu chuẩn ISO/IEC 17065:2013 hoặc tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế đối với chứng nhận chuyên ngành và các hướng dẫn liên quan của Diễn đàn Công nhận Quốc tế (IAF) hoặc tiêu chuẩn tương ứng với yêu cầu của chương trình chứng nhận đặc thù đối với hoạt động chứng nhận sản phẩm, hàng hoá;

b) Tiêu chuẩn ISO/IEC 17021-1:2015 và các hướng dẫn liên quan của Diễn đàn Công nhận Quốc tế (IAF) hoặc tiêu chuẩn tương ứng với yêu cầu của chương trình chứng nhận đặc thù đối với hoạt động chứng nhận hệ thống quản lý.

– Có ít nhất 04 chuyên gia đánh giá chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn), đáp ứng các điều kiện sau:

a) Có trình độ tốt nghiệp đại học trở lên và chuyên môn phù hợp đối với chương trình chứng nhận;

b) Được đào tạo và cấp chứng chỉ hoàn thành khóa đào tạo về kỹ năng đánh giá chứng nhận tương ứng tại cơ sở đào tạo do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố hoặc thừa nhận theo quy định của pháp luật.

Được đào tạo và cấp chứng chỉ hoàn thành khóa đào tạo về kỹ thuật chứng nhận sản phẩm chuyên ngành theo quy định của pháp luật chuyên ngành trong trường hợp có quy định;

c) Có kinh nghiệm làm việc 03 năm trở lên (kể từ thời điểm tốt nghiệp đại học) và kinh nghiệm làm việc phù hợp với yêu cầu quy định của chương trình chứng nhận tương ứng;

d) Có kinh nghiệm đánh giá 04 cuộc trở lên, với ít nhất 20 ngày công đánh giá đối với chương trình chứng nhận tương ứng.

Vũ Trí Lam – lamlamvutri@gmail.com
Tôi ở TP. Hồ Chí Minh, xin chị Thu Huyền, vai trò của hoạt động thử nghiệm giám định chất lượng đối với doanh nghiệp như thế nào?
Bà Hoàng Thị Thu Huyền- Giám đốc thương hiệu Công ty TNHH Mỹ phẩm Huyền Phi

Vâng những kết quả thử nghiệm giám định chất lượng chính là một bằng chứng cho sự tin tưởng của người tiêu dùng cho nên Huyền Phi luôn coi trọng việc đánh giá, giám định thử nghiệm chất lượng của các sản phẩm khi bán ra thị trường.  

Như tôi đã chia sẻ ở trên thì việc chúng tôi trang bị một phòng vô trùng để thử nghiệm cho các lô sản phẩm và thường xuyên gửi mẫu thử nghiệm định kỳ tại các tổ chức thử nghiệm giám định bởi chúng tôi luôn mong muốn mang lại cho khách hang những sản phẩm tốt, những sản phẩm an toàn cải thiện được vẻ đẹp của mình, đồng thời cũng cho thấy Huyền Phi luôn tự tin về các sản phẩm của mình khi bán ra thị trường.

Chúng tôi mong rằng sẽ nhận được các phản hồi từ khách hàng, bởi ban lãnh đạo công ty chúng tôi cho rằng đây chúng là những kết quả kiểm nghiệm chính xác và tốt nhất, giúp chúng tôi cải thiện những gì mà khách hàng chưa hài lòng.

Nguyễn Phương Linh – Phuonglinhnguyen27@gmail.com
Là một tổ chức chứng nhận đã được Tổng cục Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (TCĐLCL) cấp GCN hoạt động, xin ông cho biết năng lực của tổ chức có gì đặc biệt?
Ông Nguyễn Khắc Kim – Chuyên gia đánh giá Công ty TNHH T.Q.C.S.I Việt Nam

Theo tôi có mấy nội dung cơ bản như sau:

Là một đơn vị hoạt động hơn 11 năm trong lĩnh vực Chứng nhận các hệ thống quản lý và sớm đăng ký hoạt động với Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, chúng tôi luôn cho rằng chỉ có thượng tôn các nguyên tắc và giá trị của hoạt động chứng nhận mới có thể tạo ra nền tảng vững vàng cho sự phát triển bền vững. Trong suốt thời gian hoạt động của mình, T.Q.C.S.I Vietnam đã tập trung phát triển năng lực và khả năng tạo giá trị cho các khách hàng trên cơ sở 4 yếu tố năng lực lõi là Công nhận, Hợp tác Quốc tế, Năng lực nhân sự và Dịch vụ ưu việt.

Thứ nhất, các hoạt động chứng nhận của T.Q.C.S.I Vietnam luôn hướng đến nguyên tắc theo đuổi các thực hành tốt nhất và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực chứng nhận. Hiện tại, T.Q.C.S.I Vietnam đã hoàn thành thủ tục đăng ký hoạt động chứng nhận hệ thống quản lý với Tổng cục TCĐLCL và được công nhận bởi Văn phòng Công nhận Chất lượng cho các dịch vụ chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng, môi trường và an toàn sức khỏe nghề nghiệp.

Thứ hai, nhận thức được vai trò quan trọng của việc chia sẻ, chuẩn đối sách và học tập các thực hành tốt quốc tế, T.Q.C.S.I luôn duy trì và phát triển mối quan hệ với các đối tác quốc tế trong đào tạo, chứng nhận và hoạt động liên quan khác.

Thứ ba, T.Q.C.S.I Vietnam luôn nỗ lực phát triển năng lực đội ngũ nhân sự trong tất cả các khâu từ kinh doanh, điều phối, đánh giá và kỹ thuật chứng nhận. Chúng tôi đặc biệt tự hào có đội ngũ chuyên gia đánh giá cơ hữu với kinh nghiệm dày dạn trong các ngành công nghiệp, được đào tạo với các bằng cấp chuyên môn quốc tế về đánh giá, thành thạo ngoại ngữ, hiểu biết sâu sắc về hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam và cứng về kỹ năng cùng kinh nghiệm đánh giá tạo giá trị cho các khách hàng của mình. Chúng tôi luôn tin tưởng rằng, cùng với một hệ thống quản lý chất lượng theo chuẩn mực được công nhận thì năng lực nhân sự, đặc biệt là các chuyên gia đánh giá, chính là điều kiện tiên quyết cho việc phát triển bền vững và tạo giá trị cho khách hàng.

Thứ tư, T.Q.C.S.I Vietnam coi trọng việc hoàn thiện dịch vụ khách hàng để không chỉ mang lại cho khách hàng quá trình đánh giá theo chuẩn mực quốc tế, chứng chỉ được công nhận mà còn cả các trải nghiệm dịch vụ đáng nhớ ở sự thấu hiểu, gần gũi và kịp thời trong từng giao dịch.

Với kinh nghiệm mới chỉ hơn 11 năm hoạt động chứng nhận, tại T.Q.C.S.I Vietnam, chúng tôi cho rằng mình còn rất nhiều cơ hội để tiếp tục học hỏi và phát triển về năng lực và dịch vụ trong tương lai lâu dài phía trước.

Khánh An – Khanhando@gmail.com
Bà đánh giá thế nào về những kết quả tích cực trong thời gian vừa qua của Bộ KH&CN đối với việc đổi mới hoạt động kiểm tra chuyên ngành để tạo điều kiện cho doanh nghiệp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp nhập khẩu?
Bà Nguyễn Minh Thảo – Phó trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh – CIEM

Trong năm 2017, Bộ KH&CN đã rất tích cực, chủ động trong việc tìm kiếm các giải pháp cải cách công tác quản lý chuyên ngành. Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư 02, Thông tư 07, theo đó quy định rõ cách thức thực hiện công bố hợp  quy dựa trên các biện pháp tiền kiểm (trước thông quan) và hậu kiểm (sau thông quan), tạo khung pháp lý chung cho các bộ quản lý chuyên ngành khác quy định về kiểm tra chất lượng, hoạt động ĐGSPH. Đồng thời, quy định về thời gian thực hiện kiểm tra nhà nước đối với hàng hóa kiểm tra chất lượng cũng đã được rút ngắn.

Với 2 văn bản mới này, hầu hết các mặt hàng thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ KH&CN đã được chuyển sang kiểm tra sau thông quan, trừ mặt hàng xăng dầu và khí hóa lỏng. Nhờ vậy, thời gian thông quan sản phẩm hàng hóa thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ KH&CN được rút ngắn đáng kể. 

Phạm Văn Tuấn – tuanpham23@gmail.com
Việc xã hội hóa hoạt động Đánh giá sự phù hợp (ĐGSPH) đã được Bộ KHCN thực hiện chưa? Theo ông, làm như thế nào để xã hội hoá hoạt động ĐGSPH, đặc biệt là hoạt động thử nghiệm một cách hiệu quả, đặc biệt đối với các tổ chức KHCN ngoài công lập và doanh nghiệp?
TS Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Việc xã hội hóa hoạt động Đánh giá sự phù hợp (ĐGSPH) đã được Bộ KHCN triển khai thực hiện mạnh mẽ, xã hội hóa 100% theo đúng tinh thần của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP, các tổ chức đánh giá sự phù hợp thuộc mọi thành phần kinh tế (không phân biệt thuộc cơ quan nhà nước hay tư nhân hay nước ngoài đầu tư vào Việt Nam), đáp ứng điều kiện quy định tại Nghị định số 107/2016/NĐ-CP đều có thể tham gia vào hoạt động đánh giá sự phù hợp, được xem xét, chỉ định thực hiện hoạt động ĐGSPH phục vụ quản lý nhà nước đối với các sản phẩm, hàng hóa thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ KHCN.

Đến thời điểm hiện nay, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đã cấp GCN đăng ký hoạt động ĐGSPH cho 139 tổ chức thử nghiệm, 42 tổ chức chứng nhận, 22 tổ chức giám định, kiểm định và chỉ định, 69 tổ chức đánh giá sự phù hợp để phục vụ quản lý nhà nước đối với sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ KH&CN.

Theo tôi để xã hội hoá hoạt động ĐGSPH, đặc biệt là hoạt động thử nghiệm một cách hiệu quả, cần có sự tách biệt giữa hoạt động quản lý nhà nước với hoạt động ĐGSPH. Thực tiễn cho thấy, hoạt động ĐGSPH ngoài công lập có xu hướng nhanh nhạy hơn trong việc hỗ trợ, phục vụ doanh nghiệp, đáp ứng một cách kịp thời, thậm chí chủ động bỏ một khoản chi phí lớn để đầu tư trang thiết bị, nguồn lực để triển khai một cách nhanh nhất.

Do đó, các cơ quan quản lý cần triển khai thực hiện theo đúng tinh thần của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP và Nghị định số 107/2016/NĐ-CP về việc đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động ĐGSPH. Đồng thời, cần có các biện pháp, chính sách để hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức ĐGSPH tăng cường đầu tư, nâng cao năng lực ĐGSPH để đáp ứng điều kiện quy định, phù hợp thông lệ quốc tế.

Hiện nay, một số dịch vụ công trong lĩnh vực KH&CN đang dần được đẩy mạnh xã hội hóa, trong đó có hoạt động thử nghiệm, điều này sẽ đáp ứng được nhu cầu của xã hội và giảm tình trạng độc quyền của các đơn vị sự nghiệp công lập. Để xã hội hóa hoạt động thử nghiệm hiệu quả, cần thực hiện một số giải pháp sau:

– Các bộ quản lý chuyên ngành cần tạo điều kiện để các tổ chức thử nghiệm khu vực ngoài công lập và công lập có sự cạnh tranh bình đẳng.

– Chấn chỉnh, lành mạnh hóa việc cạnh tranh trong hoạt động cung ứng dịch vụ thử nghiệm của các tổ chức thử nghiệm ngoài công lập, đáp ứng yêu cầu của xã hội, bảo đảm được độ tin cậy để cơ quan quản lý nhà nước sử dụng, giảm tình trạng quá tải cho hệ thống tổ chức thử nghiệm công lập và giảm đầu tư từ ngân sách.

– Cần tổ chức rà soát, đánh giá các tổ chức cung ứng dịch vụ thử nghiệm để có định hướng phát triển phù hợp, tránh sự trùng lặp gây lãng phí nguồn lực chung.

– Khuyến khích, tạo điều kiện để các tổ chức KH&CN, doanh nghiệp đầu tư phòng thử nghiệm với trang thiết bị hiện đại, đáp ứng chuẩn mựcquốc tế để phục vụ cho việc thừa nhận lẫn nhau kết quả đánh giá sự phù hợp.

Minh Anh Lê – anhtran3@gmail.com
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lợi dụng có được kết quả kiểm định hoặc thử nghiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với một sản phẩm hoặc một lô sản phẩm nào đó, rồi sau đó họ quảng cáo tất cả các sản phẩm khác của họ đều được kiểm định hoặc thử nghiệm. Vậy ông đánh giá sao về thực trạng này?
Ông Nguyễn Hoài Nam – Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam – VASEP

Tôi cho rằng trong bói cảnh cải cách thủ tục hành chính và hoàn thiện thể chế, khung pháp lý cho các hoạt động kiểm định hoặc đánh giá sự phù hợp đã có đầy đủ và sẽ là hành lang để người dân và doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Trong đó, các hành vi hoặc nội dung vi phạm thì cũng đã có đầy đủ các công cụ quản lý để xử lý vi phạm. Vấn đề ATTP và chất lượng hàng hóa đã được quy định rõ là trách nhiệm chính của doanh nghiệp trong Luật ATTP 2010 và luật Chất lượng hàng hóa.

Tôi cũng cho rằng cần phải xử lý nghiêm và công khai minh bạch các hành vi vi phạm như thế này của bất cứ doanh nghiệp nào. Nhưng chúng ta cần phát huy đúng công cụ quản lý đã được pháp lý hóa, tránh trường hợp “một người đau bụng, cả làng phải uống thuốc”.

Hoàng Mạnh – manhnh768@gmail.com
Theo quan điểm của ông thì có cần phải xã hội hóa hoạt động ĐGSPH không? Vì sao?
Ông Trần Quốc Dũng – Phó Giám đốc Trung tâm Chứng nhận phù hợp – QUACERT

Thực chất hoạt động ĐGSPH đã được xã hội hoá (XHH) từ lâu. Điều này giúp cho doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn tới hoạt động ĐGSPH, giúp doanh nghiệp đưa hàng hoá, sản phẩm của mình vào các thị trường thuận lợi hơn.

Bùi Đăng Ninh – buidangninh.nb@gmail.com
Xã hội hóa hoạt động đánh giá sự phù hợp đang được thúc đẩy mạnh, ông đánh giá như thế vào về vai trò, trách nhiệm của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này?
Ông Nguyễn Khắc Kim – Chuyên gia đánh giá Công ty TNHH T.Q.C.S.I Việt Nam

Trong xã hội hóa hoạt động đánh giá sự phù hợp, các tổ chức chứng nhận – giám định – thử nghiệm vừa đối tượng được điều chỉnh của các khuôn khổ pháp lý, lại vừa là chủ sân chơi. Vì vậy, các tổ chức này, giống như T.Q.C.S.I Vietnam, phải thể hiện mình là người chơi có trách nhiệm, tính xây dựng cao, và tích cực đóng góp vào việc phát triển chung của lĩnh vực

b) Với đặc thù hoạt động là đánh giá sự phù hợp, học tấm gương các tổ chức quốc tế với lịch sử hơn một thế ký, các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này cần hoạch định và theo đuổi các mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn trên cơ sở thượng tôn các nguyên tắc và giá trị nghề nghiệp, thay vì các lợi ích tài chính ngắn hạn

c) Ở Việt Nam, với sự bắt đầu muộn hơn so với các nước phát triển, hoạt động đánh giá sự phù hợp còn nhiều cơ hội phát triển về mặt chuyên môn nghiệp vụ. Đây là dư địa cho các tổ chức chứng nhận – giám định – thử nghiệm lựa chọn để có con đương phát triển riêng, bền vững cho mình. Các tổ chức này hiện tại không chỉ tiếp nhận và thực thi các thực hành tốt quốc tế mà còn phải tham gia vào phát triển các tri thức mới trong lĩnh vực này –  từng bước thể hiện vai trò công dân toàn cầu trong lĩnh vực đánh giá sự phù hợp. Đây là một vai trò mà, theo chúng tôi đánh giá, đơn vị tiên phong như QUACERT đã và đang thực hiện rất tốt trong những năm vừa qua.

d) Trong hiện tại, có điều đáng tiếc là một số tổ chức hoạt động trong lĩnh vực đánh giá sự phù hợp chưa thể hiện được các vai trò này trong hoạt động của mình. Một số ít, thậm chí còn tạo ra các thực hành xấu, tác động tiêu cực đến phong trào chung. Tuy nhiên, về lâu dài, chúng tôi cho rằng những tổ chức này sẽ phải thay đổi cách tiếp cận và trở nên có trách nhiệm hơn, hoặc là bị đào thải trong quá trình phát triển chung của lĩnh vực.

Lê Thị Hồng Liên – lienlehong@gmail.com
Thưa bà Thu Huyền, là doanh nghiệp trẻ, theo bà hoạt động thử nghiệm, giám định có hỗ trợ loại trừ các sản phẩm kém chất lượng ra khỏi thị trường và giúp ích các doanh nghiệp chân chính như thế nào?
Bà Hoàng Thị Thu Huyền- Giám đốc thương hiệu Công ty TNHH Mỹ phẩm Huyền Phi

Hoạt động thử nghiệm và giám định đóng góp một vai trò rất lớn trong công tác phòng chống các hành vi kinh doanh sản phẩm hàng hóa kém chất lượng trên thị trường, giúp loại bỏ những hành vi kinh doanh tiêu cực để đem lại một môi trường kinh doanh lành mạnh cho cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam. 

Theo tôi, đây là một hoạt động đóng vai trò quan trọng trong việc xác định được chất lượng sản phẩm. Hiện nay, đây là hoạt động bắt buộc với các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ trên thị trường. Ví dụ, trong ngành mỹ phẩm, việc kiểm định sản phẩm là một trong những khâu quan trọng để đảm bảo sản phẩm đó trước khi lưu hành trên thị trường đủ tiêu chuẩn về an toàn chất lượng. Bản thân một sản phẩm trước khi lưu hành trên thị trường không chỉ cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn của Bộ Y tế để công bố và lưu hành mà còn cần phải đạt đúng các tiêu chuẩn Việt Nam. 

Hiện nay, các sản phẩm của Mỹ phẩm Huyền Phi đều tuân thủ đúng các yêu cầu về công bố, đồng thời, chúng tôi cũng liên tục hợp tác với Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng để kiểm định các sản phẩm mỹ phẩm của mình nhằm đảm bảo các sản phẩm trước khi đến tay người tiêu dùng là những sản phẩm tốt nhất, an toàn nhất và hiệu quả nhất. 

Đỗ Lê – dolelinh2211@gmail.com
Hoạt động xã hội hóa hiện nay của các Bộ ngành như thế nào? Bà Thảo có đánh giá gì về việc thực hiện xã hội hóa này của các Bộ ngành?
Bà Nguyễn Minh Thảo – Phó trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh – CIEM

Hiện nay, các bộ ngành đã đưa ra các tiêu chí để thực hiện được xã hội hóa hoạt động ĐGSPH. Tuy nhiên số lượng các đơn vị được chỉ định chưa nhiều, chưa tạo được lựa chọn đa dạng cho doanh nghiệp.

Hạn chế này có một phần từ những quy định về điều kiện kinh doanh đối với hoạt động ĐGSPH vì thế các đơn vị đăng ký tham gia chưa nhiều. Một số điều kiện kinh doanh đối với hoạt động này còn chung chung, thiếu cụ thể dẫn tới việc quyết định phụ thuộc vào ý chủ quan của bộ ngành chỉ định. 

Mặt khác, để thực hiện hoạt động ĐGSPH đòi hỏi phải có đầu tư lớn vào máy móc và trang thiết bị nên các đơn vị tham gia vào hoạt động này hạn chế hơn.

Chính vì vậy, các bộ ngành đã có xu hướng mở rộng và đa dạng hóa, thực hiện xã hội hóa hoạt động ĐGSPH, tạo ra được sự cạnh tranh nhất định nhưng chưa nhiều và chưa đáp ứng được mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp.

Mai Hoàng – maihoang77@gmail.com
Tôi xin hỏi đại diện của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng có đánh giá thế nào về hoạt động ĐGSPH hiện nay tại Việt Nam? Hoạt động ĐGSPH bao gồm những loại hình hoạt động gì? tổ chức ĐGSPH bao gồm những loại hình tổ chức nào?
TS Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Hiện nay, về cơ bản hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý về hoạt động đánh giá sự phù hợp về cơ bản đã được các cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện, ban hành đầy đủ. Các văn bản quy phạm pháp luật đã có tác động tích cực đến hoạt động đánh giá sự phù hợp trong nước như: Tạo cơ sở pháp lý để quản lý hoạt động của các tổ chức đánh giá sự phù hợp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam và phục vụ quản lý nhà nước đối với sản phẩm, hàng hóa nhóm 2; bước đầu chuẩn hóa năng lực và tạo cơ chế bình đẳng cho hoạt động các tổ chức đánh giá sự phù hợp; định hướng phát triển cho hoạt động đánh giá sự phù hợp phục vụ quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa làm nền tảng cho phát triển kinh tế và hội nhập với thông lệ chung của hoạt động đánh giá sự phù hợp trong khu vực và trên thế giới.

Theo quy định tại Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, hoạt động đánh giá sự phù hợp bao gồm hoạt động thử nghiệm, giám định, chứng nhận, kiểm định và tổ chức ĐGSPH bao gồm tổ chức thử nghiệm, tổ chức giám định, tổ chức chứng nhận và tổ chức kiểm định.

Minh Anh – minhanh9x@gmail.com
Tôi xin hỏi ông Dũng, ông đánh giá thế nào về chính sách hiện nay của Nhà nước đối với hoạt động ĐGSPH?
Ông Trần Quốc Dũng – Phó Giám đốc Trung tâm Chứng nhận phù hợp – QUACERT

Hiện nay chính sách của nhà nước đối với hoạt động ĐGSPH là chính sách khá mở và thoáng. Theo các chính sách hiện nay, bất kì tổ chức nào đáp ứng được điều kiện đưa ra ở Nghị định 107/2016/NĐ-CP là đều có thể đăng kí là tổ chức đánh giá sự phù hợp. Cơ quan có thẩm quyền không cần thiết phải kiểm tra điều kiện trước mà sẽ thực hiện hậu kiểm.

Về các điều kiện đối với tổ chức ĐGSPH cũng đáp ứng theo các tiêu chuẩn quốc tế. Cho nên, có thể nói chính sách ở Việt Nam với hoạt động ĐGSPH hoàn toàn hoà nhập và phù hợp với thực tiễn quốc tế. Chính vì vậy, trong thời gian vừa qua đã có rất nhiều tổ chức ĐGSPH ra đời.

Lê Tuấn Anh – tuananhtrocxd@gmail.com
Ông đánh giá thế nào về chủ trương xã hội hóa hoạt động đánh giá sự phù hợp, đặc biệt là hoạt động thử nghiệm? Các doanh nghiệp SX, KD thủy sản thuộc VASEP được hưởng lợi gì từ chủ trương xã hội hóa này?
Ông Nguyễn Hoài Nam – Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam – VASEP

Nó không chỉ là điều kiện tiên quyết mà nó còn là chủ trương chính sách về phát triển kinh tế và nó mang lại lợi ích chung cho xã hội, đặc biệt là hoạt động thường nhật, việc xã hội hóa không chỉ kích thích tính cạnh tranh mà nó còn mang lại chất lượng dịch vụ cao.

Các doanh nghiệp (DN) sản xuất, xuất khẩu thủy sản không nằm ngoài xu hướng này và được hưởng lợi từ hoạt động cần thiết này. Bởi không chỉ đáp ứng được các quy định của pháp luật (PL) mà còn đáp ứng được các yêu cầu đa dạng của khách hàng, bên cạnh đó lại lại luôn tối ưu được các chi phí mà cuối cùng tính vào giá thành sản phẩm.

Khôi Vỹ – khoivytran112@gmail.com
Theo quan điểm của bà thì có cần phải xã hội hóa hoạt động đánh giá sự phù hợp (ĐGSPH), đặc biệt là hoạt động thử nghiệm không? Vì sao?
Bà Nguyễn Minh Thảo – Phó trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh – CIEM

Việc xã hội hóa hoạt động ĐGSPH là nội dung quan trọng cần được triển khai rộng rãi bởi hoạt động này tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các đơn vị ĐGSPH và tạo ra cơ hội lựa chọn đa dạng cho các doanh nghiệp (DN). Với việc xã hội hóa hoạt động ĐGSPH thì bản thân các đơn vị đánh giá này phải nâng cao chất lượng và tính sáng tạo để cạnh tranh. 

Về phía DN do có nhiều lựa chọn hơn nên họ có thể lựa chọn các đơn vị phù hợp, tiết kiệm thời gian, chi phí.

Nguyễn Hoài Nam – namnh1982@gmail.com
Thưa ông Nguyễn Khắc Kim, ông nhận định như thế nào về chủ trương xã hội hóa các hoạt động đánh giá sự phù hợp trong bối cảnh hiện nay?
Ông Nguyễn Khắc Kim – Chuyên gia đánh giá Công ty TNHH T.Q.C.S.I Việt Nam

Tôi xin trả lời bạn như sau: 

a) Xã hội hóa các hoạt động đánh giá sự phù hợp, bao gồm chứng nhận – giám định – thử nghiệm, là một chủ trương đúng đắn và kịp thời chính phủ nhằm thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động này nói riêng và thị trường nói chung

b) Chủ trương xã hội hóa giúp thu hút sự tham gia của nhiều thành phần, đối tượng – trong nước và nước ngoài, công lập và ngoài công lập – nhằm phát triển và đa dạng hóa nguồn lực công nghệ, kỹ thuật, quản lý, thực hành chuyên môn tốt và nhân lực; đồng thời tận dụng được tối đa các nguồn lực đó.

c) Việc xã hội hóa thành công cung cấp khả năng tiếp cận tốt hơn của các doanh nghiệp, tổ chức với các dịch vụ đánh giá sự phù hợp với các lựa chọn phù hợp với nhu cầu và điều kiện của mình.

d) Mặc dù đã và sẽ mang lại nhiều hiệu quả tích cực với thị trường đánh giá sự phù hợp, mức độ thành công của chủ trương này sẽ phụ thuộc nhiều vào hiệu quả của hoạt động điều tiết của các cơ quan nhà nước thực hiện vai trò hình thành và quản lý khuôn khổ pháp lý thích hợp và hiệu lực cho hoạt động đặc biệt này

e) Trong những năm qua, Bộ Khoa học và Công nghệ, với vai trò là bộ chủ quản, và Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, với vai trò là cơ quan thường trực, đã có nhiều nỗ lực trong việc tham mưu, ban hành và triển khai các sáng kiến trong lĩnh vực này mà gần đây nhất là Nghị định 107/2016/NĐ-CP Quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp

f) Trong giai đoạn đầu thực hiện chủ trương xã hội hóa, sẽ không tránh khỏi việc xuất hiện những biểu hiện thiếu lành mạnh trong hoạt  động ở một số trường hợp riêng lẻ. Tuy nhiên, về lâu dài hoạt động đánh giá sự phù hợp sẽ dần đi vào khuôn khổ và phát triển theo đúng chủ trương xã hội hóa mà Chính phủ đã định hướng.

Linh Lăng – Langlinhthi@gmail.com
Thưa bà, là 1 doanh nghiệp trẻ, Công ty Huyền Phi đã thực hiện nhưng giải pháp nào để nâng cao năng lực cạnh trạnh và đứng vững trên thị trường?
Bà Hoàng Thị Thu Huyền- Giám đốc thương hiệu Công ty TNHH Mỹ phẩm Huyền Phi

Thực tế, hiện nay tình trạng mỹ phẩm ngoại nhập bằng nhiều đường tiểu ngạch, không chính thống như hàng xách tay là một trong những vấn nạn lớn khiến những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn len lỏi vào thị trường trong nước, gây nên sự hoang mang về chất lượng sản phẩm của người tiêu dùng.   

Theo quan điểm và nhìn nhận của bản thân tôi, hiện nay các hãng mỹ phẩm lớn trong nước đều sở hữu những ưu việt từ giá thành và chất lượng để hoàn toàn có thể cạnh tranh với mỹ phẩm ngoại nhập.  

Tôi nghĩ rằng, các doanh nghiệp Việt cần tự tin vào sản phẩm và thực hiện đúng các quy trình chất lượng và tuân theo các tiêu chuẩn đã đề ra, nếu đạt được những điều này khách hàng trong nước sẽ dần tin tưởng vào sản phẩm của doanh nghiệp nội địa. 

Ngoài ra chúng tôi luôn coi trọng vấn đề chất lượng sản phẩm khi bán ra thị trường. Mỗi lô sản xuất đều được đội ngũ nhân viên kiểm tra chất lượng một cách ngặt nghèo, nếu có bất kỳ một lỗi nhỏ nào trong quá trình sản xuất sẽ ngay lấp tức huỷ và tìm ra nguyên nhân khắc phục.

Bên cạnh đó những đánh giá của khách hàng sẽ là một trong những yếu tố được bán lãnh đạo Công ty hết sức quan tâm. Mỗi phản hồi sẽ giúp Huyền Phi có thêm được các bài học kinh nghiệm tốt nhất, bởi tiêu chí của chúng tôi khách hàng luôn là số một.